Analytic

Thuế

Thuế Bảo vệ môi trường: Chi nhiều hơn thu

Bảo Khánh - 16:07, 14/09/2017

(VNF) - Giai đoạn 2012-2016, tổng chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho các nhiệm vụ bảo vệ môi trường (BVMT) bình quân khoảng 26.371 tỷ đồng/năm, cao hơn khoảng 17% số thu thuế BVMT trong cùng giai đoạn.

Thuế Bảo vệ môi trường: Chi nhiều hơn thu
Ảnh minh họa

Theo tổng kết của Bộ Tài chính, số thu thuế BVMT liên tục tăng ổn định qua các năm từ 2012 đến 2016. Tổng số thu thuế BVMT giai đoạn này khoảng 105.985 tỷ đồng, bình quân khoảng 21.197 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng khoảng 1,48% - 4,27% trên tổng thu NSNN và khoảng 0,34% - 0,98% trên tổng sản phẩm trong nước (GDP) hàng năm.

Trong đó năm 2012 là 11.160 tỷ đồng; năm 2013 là 11.512 tỷ đồng; năm 2014 là 11.970 tỷ đồng; năm 2015 là 27.020 tỷ đồng (tăng mạnh do điều chỉnh mức thu); năm 2016 khoảng 44.323 tỷ đồng.

Bộ Tài chính cho hay, khoản thu từ thuế BVMT không phải là khoản thu mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp, không quy định sử dụng cho các nhiệm vụ chi cụ thể mà để thực hiện các nhiệm vụ chi theo quy định của Luật NSNN và được Quốc hội phê duyệt hàng năm.

Luật NSNN quy định các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối NSNN, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể.

Tổng chi NSNN cho các nhiệm vụ BVMT giai đoạn 2012-2016 (bao gồm cả các khoản vay, viện trợ đã đưa vào NSNN để chi thường xuyên cho BVMT hoặc chi đầu tư phát triển BVMT; chưa tính chi các hoạt động kinh tế, chi đầu tư phát triển, chi dự phòng của ngân sách địa phương cho các nhiệm vụ BVMT và các khoản vay, viện trợ chi trực tiếp cho dự án về BVMT không đưa vào NSNN) khoảng 131.857 tỷ đồng, bình quân khoảng 26.371 tỷ đồng/năm, cao hơn khoảng 17% số thu thuế BVMT giai đoạn 2012-2016.

Theo đó, tổng số chi thường xuyên cho BVMT khoảng 89.131 tỷ đồng, gồm: Chi thường xuyên từ NSNN (ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương) bố trí trực tiếp cho sự nghiệp BVMT khoảng 52.420 tỷ đồng; chi các hoạt động kinh tế của ngân sách Trung ương khoảng 36.711 tỷ đồng gồm chi thực hiện các dự án điều tra, đánh giá về đất đai, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, biển và hải đảo,… bố trí trong dự toán chi NSNN hàng năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Cùng với đó là chi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (2012 - 2016), Chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (2012 - 2016), Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (2016); chi thực hiện các chính sách quản lý sử dụng đất trồng lúa, phát triển rừng, quản lý khai thác gỗ rừng tự nhiên, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản, duy tu đê điều, khuyến nông, công ích thủy nông).

Tổng chi đầu tư phát triển của ngân sách Trung ương khoảng 24.246 tỷ đồng chủ yếu chi cho các chương trình, dự án theo ngành, lĩnh vực quản lý tập trung ở ngành tài nguyên - môi trường; ngành cấp nước, xử lý rác thải, nước thải và chi lồng ghép từ nhiều chương trình như Chương trình nước sạch và vệ sinh nông thôn, Chương trình khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường, Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu,...

Tổng chi từ dự phòng ngân sách Trung ương để phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ các địa phương xử lý các nhiệm vụ đột xuất, cấp bách trong năm như đê kè, hồ chứa,... khoảng 18.480 tỷ đồng. Ngoài ra còn một số nội dung, nhiệm vụ do NSNN chi trả góp phần BVMT như: các dự án, chương trình khoa học công nghệ ứng dụng công nghệ xanh, bền vững,...

Mới đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường (BVMT).

Tại dự thảo, Chính phủ cũng đã đề nghị điều chỉnh khung thuế BVMT đối với xăng dầu. Theo đó, mức thuế tối thiểu điều chỉnh tăng bằng mức thuế cụ thể đang áp dụng; mức thuế tối đa điều chỉnh tăng bằng 2 lần mức thuế tối đa trong khung thuế hiện hành (trong đó khung mức thuế BVMT đối với xăng điều chỉnh từ 1.000-4.000 đồng/lít lên từ 3.000-8.000 đồng/lít).

Riêng đối với dầu hỏa, đề nghị giữ khung thuế BVMT như hiện hành (300-2.000 đồng/lít) vì dầu hỏa là mặt hàng thiết yếu phục vụ cho đa số người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.