Toàn cảnh cao tốc La Sơn – Hòa Liên sau khi mở rộng 4 làn xe
(VNF) - Tuyến cao tốc La Sơn – Hòa Liên dài gần 66km, nối TP. Huế với TP. Đà Nẵng, đang được hoàn thiện những hạng mục cuối cùng sau khi cơ bản hoàn thành mở rộng lên 4 làn xe.

(VNF) - Quyết định 1413/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phổ cập kiến thức tài chính cho người dân đã nêu nhiệm vụ đưa giáo dục tài chính vào trường học từ 2027.
Trao đổi với Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, TS Lê Minh Nghĩa - Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) cho rằng việc đưa giáo dục tài chính trong trường học là khoản đầu tư vào “hạ tầng mềm”, có ý nghĩa dài hạn đối với thị trường tài chính và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam.

- Theo ông, việc nâng cao dân trí tài chính từ trường học sẽ tác động như thế nào tới quá trình phát triển thị trường vốn, tài chính toàn diện và chất lượng nguồn nhân lực trong dài hạn?
TS Lê Minh Nghĩa: Tôi cho rằng đây chính là mắt xích dễ bị đánh giá thấp nhất trong toàn bộ chuỗi mục tiêu của Quyết định 1413/QĐ-TTg, dù nó là nền tảng cho tất cả các mục tiêu khác.
Đề án đặt ra những chỉ tiêu rất cụ thể: vốn hóa thị trường chứng khoán đạt 120% GDP vào năm 2045, tài sản của nhà đầu tư nước ngoài đạt khoảng 15% GDP, tổng tài sản ròng các quỹ đầu tư chứng khoán đạt 5% GDP vào năm 2030. Nhưng một thị trường vốn phát triển bền vững không thể chỉ được xây dựng bằng chính sách và hạ tầng giao dịch; nó cần một cơ sở nhà đầu tư trong nước đủ hiểu biết để tham gia dài hạn, thay vì chạy theo tâm lý đám đông hay đầu cơ ngắn hạn.
Nếu người dân không được trang bị kiến thức tài chính căn bản từ sớm, dòng tiền nhàn rỗi trong dân sẽ tiếp tục chảy vào các kênh rủi ro cao, thiếu minh bạch, thay vì các kênh chính thống như cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư - đúng như chúng ta đã thấy qua nhiều đợt sốt tiền ảo, đa cấp tài chính thời gian qua.
Về tài chính toàn diện, Quyết định 928/QĐ-TTg đặt mục tiêu 95% dân số trưởng thành có tài khoản giao dịch vào năm 2030. Nhưng sở hữu tài khoản không đồng nghĩa với sử dụng tài khoản một cách an toàn, hiệu quả.
Thực tế tại nhiều quốc gia đang phát triển cho thấy việc mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính mà thiếu đi giáo dục tài chính đi kèm thường dẫn đến hệ quả ngược: người dân dễ rơi vào bẫy nợ tiêu dùng, vay qua ứng dụng với lãi suất núp bóng, hoặc trở thành nạn nhân lừa đảo tài chính công nghệ cao. Do đó, giáo dục tài chính không phải là một cấu phần tùy chọn mà là điều kiện để tài chính toàn diện thực sự "toàn diện", chứ không dừng ở con số tiếp cận.
Về nguồn nhân lực, Quyết định 1413/QĐ-TTg tại Điều 1, điểm 8 đặt mục tiêu xây dựng đội ngũ chuyên gia về AI tài chính, an ninh mạng, dữ liệu lớn, quản trị rủi ro định lượng. Đội ngũ này không thể hình thành trong một sớm một chiều ở bậc đại học nếu học sinh không có nền tảng tư duy tài chính - số học từ sớm.
Tôi vẫn thường nói với các cộng sự tại VFCA rằng: nếu chúng ta muốn có một thế hệ chuyên gia tài chính đẳng cấp quốc tế vào năm 2045, thì hạt giống của thế hệ đó phải được gieo từ ghế nhà trường ngay từ hôm nay.
Nói cách khác, giáo dục tài chính học đường chính là khoản đầu tư vào "hạ tầng mềm" dài hạn nhất, âm thầm nhất, nhưng cũng quyết định nhất đối với toàn bộ hệ mục tiêu mà đề án đã đặt ra.

- Theo ông, giáo dục tài chính trong nhà trường nên được hiểu chính xác như thế nào?
TS Lê Minh Nghĩa: Khung năng lực tài chính cốt lõi cho thanh thiếu niên do Mạng lưới Giáo dục Tài chính Quốc tế của OECD (OECD/INFE) xây dựng và được các nước G20 thông qua xác định bốn trụ cột năng lực: (i) tiền và các giao dịch - hiểu về tiền, phương thức thanh toán, giá trị đồng tiền theo thời gian; (ii) lập kế hoạch và quản lý tài chính cá nhân - lập ngân sách, phân biệt nhu cầu và mong muốn, tiết kiệm có mục tiêu; (iii) rủi ro và lợi ích - hiểu về bảo hiểm, đa dạng hóa, cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận; và (iv) hiểu biết về bối cảnh tài chính rộng hơn - vai trò của các định chế tài chính, quyền và trách nhiệm của người tiêu dùng tài chính, tác động của chính sách kinh tế đến đời sống cá nhân.
Như vậy, giáo dục tài chính học đường cần được thiết kế theo ba tầng: tầng kiến thức (biết những khái niệm cơ bản như lãi suất, lạm phát, lãi kép), tầng kỹ năng (làm được - biết lập một ngân sách cá nhân đơn giản, đọc hiểu một hợp đồng vay tiêu dùng, tính toán chi phí thực của một khoản vay) và tầng thái độ - hành vi (hình thành thói quen chi tiêu có kế hoạch, ra quyết định tài chính có trách nhiệm, biết đặt câu hỏi trước một lời mời chào đầu tư hấp dẫn bất thường).
Riêng với bối cảnh Việt Nam hiện nay, tôi cho rằng cần bổ sung thêm một chiều kích thứ tư không thể thiếu: năng lực tài chính số - khả năng sử dụng an toàn ví điện tử, ngân hàng số, nhận diện các hình thức lừa đảo tài chính qua mạng xã hội, ứng dụng cho vay trực tuyến. Đây là nhóm rủi ro mà thế hệ học sinh hiện nay - vốn tiếp cận công nghệ tài chính từ rất sớm - phải đối diện hằng ngày, trong khi khung năng lực quốc tế truyền thống chưa nhấn đủ mạnh vào khía cạnh này.

- Nhìn vào thực trạng hiện nay, ông cho rằng học sinh Việt Nam đang thiếu những kiến thức và kỹ năng tài chính nào nhất?
TS Lê Minh Nghĩa: Trước hết, cần ghi nhận Việt Nam đã có bước đi khá sớm khi tích hợp giáo dục tài chính vào 6 môn học trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 gồm Toán, Ngữ văn, Giáo dục công dân, Tự nhiên và Xã hội, Công nghệ, Hoạt động trải nghiệm. Riêng nội dung tài chính trong môn Toán được triển khai từ lớp 2 đến lớp 12. Tuy nhiên, có nội dung trên chương trình không đồng nghĩa học sinh đã hình thành năng lực tài chính thực chất.
Theo OECD, điểm dân trí tài chính của Việt Nam năm 2023 đạt 12/21, thấp hơn mức trung bình 13,5/21 của 39 quốc gia tham gia khảo sát. Dữ liệu PISA 2022 cũng cho thấy hơn 18% học sinh Việt Nam 15 tuổi chưa đạt năng lực tài chính cơ bản. Điều này cho thấy khoảng cách giữa nội dung được đưa vào chương trình và năng lực thực tế vẫn còn đáng kể, một phần do nội dung còn rời rạc, thiên về lý thuyết và thiếu trải nghiệm thực hành.
Qua thực tiễn hoạt động của VFCA, tôi cho rằng có ba khoảng trống lớn nhất: hiểu biết về lãi suất kép và chi phí thực của khoản vay; kỹ năng lập ngân sách, phân biệt nhu cầu và mong muốn; khả năng nhận diện rủi ro của tín dụng phi chính thức và các mô hình đầu tư có dấu hiệu lừa đảo.
Bên cạnh đó, một rủi ro mới là các sản phẩm tài chính số như Buy Now Pay Later. Người trẻ có thể tiếp cận rất dễ dàng nhưng chưa chắc hiểu đầy đủ về phí, lãi phạt và nghĩa vụ trong hợp đồng. Vì vậy, năng lực tài chính số và kỹ năng đọc hiểu hợp đồng cũng cần được đưa vào giáo dục tài chính học đường.
Những khoảng trống này có thể khiến người trẻ vay vượt khả năng trả nợ, tìm đến tín dụng phi chính thức hoặc thiếu tư duy tích lũy, bảo hiểm và đầu tư dài hạn. Do đó, giáo dục tài chính không chỉ cần giúp học sinh “biết”, mà phải giúp các em biết lập ngân sách, xác định giới hạn vay, tính chi phí tín dụng và đưa ra quyết định tài chính an toàn ngay từ sớm.
- Theo ông, Việt Nam nên bắt đầu từ cấp học nào và nội dung ở mỗi cấp cần được thiết kế ra sao để tránh nặng về lý thuyết?
TS Lê Minh Nghĩa: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy giáo dục tài chính nên bắt đầu càng sớm càng tốt, nhưng phải phù hợp với lứa tuổi và thiên về thực hành. Malaysia lồng ghép nội dung tài chính vào môn Toán từ lớp 1, trong khi Anh đã đưa giáo dục tài chính vào chương trình bắt buộc và đang mở rộng xuống bậc tiểu học.
Từ đó, tôi đề xuất Việt Nam xây dựng lộ trình theo ba cấp học. Tiểu học (lớp 1-5) tập trung nhận biết tiền, phân biệt “cần” và “muốn”, hình thành thói quen tiết kiệm và chia sẻ. THCS (lớp 6-9) bổ sung kỹ năng lập ngân sách, hiểu nguồn thu nhập, tiêu dùng thông minh, tài khoản ngân hàng và lãi suất. THPT (lớp 10-12) đi sâu hơn vào tín dụng, nợ, bảo hiểm, đầu tư, thuế, hợp đồng tài chính và nhận diện lừa đảo tài chính số.
Ở mỗi cấp, giáo dục tài chính không nên trở thành một môn học nặng lý thuyết mà cần được lồng ghép vào các môn học và hoạt động trải nghiệm. Học sinh tiểu học có thể học qua trò chơi, mô phỏng mua bán; học sinh THCS thực hành lập ngân sách; còn học sinh THPT có thể tham gia mô phỏng đầu tư, quản lý danh mục hoặc xử lý các tình huống vay vốn, bảo hiểm.

Điểm quan trọng nhất là chuyển từ “học để biết” sang “học để làm”, thông qua trò chơi hóa, mô phỏng quyết định tài chính và các tình huống sát với đời sống.
Nội dung giáo dục tài chính cần được thiết kế theo lộ trình từ đơn giản đến nâng cao, phù hợp với năng lực nhận thức của từng cấp học:
Theo tôi, Việt Nam có thể học ba kinh nghiệm chính. Thứ nhất, tích hợp liên môn thay vì tạo thêm một môn học độc lập. Thứ hai, xây dựng chiến lược quốc gia dài hạn với sự phối hợp của nhiều bên, như cách Malaysia triển khai chiến lược tài chính quốc gia. Thứ ba, sử dụng khung năng lực chuẩn hóa theo độ tuổi, chẳng hạn OECD/INFE, để bảo đảm tính kế thừa giữa các cấp học.
Tuy nhiên, cũng cần tránh khoảng cách giữa “biết” và “làm”. Một khảo sát tại Malaysia năm 2023 cho thấy 77% học sinh có mức hiểu biết tài chính cao nhưng chỉ 17,6% thể hiện hành vi tài chính tốt. Điều này cho thấy nếu chương trình quá thiên về lý thuyết, hiệu quả sẽ hạn chế.
Một rủi ro khác là phụ thuộc vào các chương trình ngắn hạn do doanh nghiệp tài chính tài trợ. Nếu thiếu thẩm định độc lập, nội dung giáo dục có thể bị lồng ghép quảng bá sản phẩm. Vì vậy, chương trình chính thức cần do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, với sự tham gia của các cơ quan quản lý và các hội nghề nghiệp tài chính độc lập như VFCA trong xây dựng chuẩn mực, phản biện và đào tạo.
- Theo ông, đâu là những điều kiện tiên quyết để việc đưa giáo dục tài chính vào trường học không chỉ dừng ở một chủ trương, mà thực sự tạo ra sự thay đổi về nhận thức và hành vi tài chính của cả một thế hệ?
TS Lê Minh Nghĩa: Tôi cho rằng có 5 điều kiện tiên quyết để giáo dục tài chính không dừng ở một “phong trào” hình thức.
Thứ nhất, đào tạo đội ngũ giáo viên, đây cũng là nút thắt quan trọng nhất. Phần lớn giáo viên phổ thông chưa được đào tạo bài bản về tài chính cá nhân và phương pháp giảng dạy theo hướng trải nghiệm. Vì vậy, cần có chương trình bồi dưỡng giáo viên đi trước một bước.
Thứ hai, xây dựng bộ học liệu chuẩn, được thẩm định độc lập và cập nhật định kỳ, tránh tình trạng mỗi địa phương, trường học triển khai một cách khác nhau hoặc để nội dung giáo dục bị lồng ghép quảng bá sản phẩm thương mại.
Thứ ba, có cơ chế đánh giá tác động, không chỉ kiểm tra kiến thức mà cần theo dõi sự thay đổi về hành vi tài chính của học sinh, sinh viên để kịp thời điều chỉnh chương trình.
Thứ tư, tăng cường phối hợp liên ngành. Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể giữ vai trò chủ trì, đồng thời cần sự tham gia thực chất của Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính và các hội nghề nghiệp tài chính - đúng với tinh thần mà Quyết định 1413/QĐ-TTg đã nêu tại Điều 1, điểm 8 về việc "tăng cường vai trò của các hội nghề nghiệp trong xây dựng chuẩn mực nghề nghiệp... cập nhật kiến thức chuyên môn và phản biện chính sách". VFCA sẵn sàng và mong muốn được đóng góp thực chất vào quá trình này, không chỉ với tư cách tham vấn mà còn trong việc xây dựng nội dung, đào tạo giảng viên nguồn.
Thứ năm, bảo đảm nguồn lực triển khai ổn định, dài hạn, không phụ thuộc vào các dự án ngắn hạn hay tài trợ tự nguyện. Xuyên suốt cả 5 điều kiện là nguyên tắc “học đi đôi với hành”, tạo cho học sinh những trải nghiệm tài chính thực tế thay vì chỉ tiếp thu kiến thức trên giấy.
Nếu hội đủ năm điều kiện này, tôi tin rằng sau một thế hệ - khoảng 10 năm đến 15 năm - chúng ta hoàn toàn có thể chứng kiến sự thay đổi rõ rệt về hành vi tài chính của người Việt Nam trưởng thành, đóng góp trực tiếp vào các mục tiêu phát triển thị trường tài chính đến năm 2045 mà Quyết định 1413/QĐ-TTg đã đặt ra.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!
(VNF) - Tuyến cao tốc La Sơn – Hòa Liên dài gần 66km, nối TP. Huế với TP. Đà Nẵng, đang được hoàn thiện những hạng mục cuối cùng sau khi cơ bản hoàn thành mở rộng lên 4 làn xe.
(VNF) - Theo ông Bùi Thế Bảo - chuyên gia hoạch định tài chính cá nhân, nhà sáng lập công ty Chìa Khóa Vàng, đã đến lúc mỗi người cần thay đổi tư duy từ "để dành" sang "đầu tư cho tuổi hưu", chủ động xây dựng một "quỹ hưu trí tự thân". Đây không chỉ là giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cá nhân mà còn góp phần hình thành dòng vốn dài hạn cho nền kinh tế.
(VNF) - Theo ông Vũ Thành Công - Cố vấn tài chính cá nhân tại Mỹ, giá trị lớn nhất của chứng chỉ quỹ không chỉ nằm ở khả năng sinh lời mà còn ở việc giúp nhà đầu tư tiếp cận một hệ thống quản lý chuyên nghiệp, minh bạch và được bảo vệ bởi khung pháp lý.
(VNF) - Theo ông Nguyễn Tử Quảng - Chủ tịch sáng lập, CEO Tập đoàn Công nghệ Bkav, điều Việt Nam thiếu không phải là tiền mà là một cơ chế thị trường vốn phù hợp với doanh nghiệp công nghệ. Một sàn giao dịch chuyên biệt theo mô hình "NASDAQ Việt Nam" có thể trở thành động lực khơi thông dòng vốn cho đổi mới sáng tạo.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, TS. Phan Hữu Thắng - Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho rằng, Việt Nam đang trở thành điểm đến an toàn của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, để biến lợi thế thành động lực tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần nhanh chóng nâng cấp hạ tầng, hoàn thiện thể chế và gia tăng năng lực của doanh nghiệp trong nước nhằm đón làn sóng đầu tư chất lượng cao.
(VNF) - Chiến sự Iran và làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI) đã tạo nên nửa đầu năm 2026 đầy biến động của thị trường tài chính toàn cầu. Trong khi AI thúc đẩy cổ phiếu công nghệ bứt phá, xung đột Trung Đông khiến giá dầu, lạm phát và lợi suất trái phiếu tăng mạnh.
(VNF) - Việc Ngân hàng Thế giới (World Bank) chính thức xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao đánh dấu cột mốc sau 17 năm tăng trưởng bền bỉ, đồng thời mở ra giai đoạn phát triển nhiều thách thức hơn.
(VNF) - Với quy mô đầu tư hơn 1 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế, cùng mục tiêu chiến lược đưa doanh thu phí đạt 3,3 – 3,5% GDP vào năm 2030, ngành bảo hiểm đang ngày càng khẳng định vai trò là một trong những kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho sự tăng trưởng bền vững.
(VNF) - TS. Võ Trí Thành cho rằng, Việt Nam cần những nguồn vốn dài hạn hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh tín dụng ngân hàng, việc phát triển các định chế tài chính như quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, bảo hiểm hay tài chính xanh sẽ góp phần mở rộng kênh dẫn vốn, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng và tạo động lực cho tăng trưởng bền vững.
(VNF) - Từ những định chế năng động như TPBank, MB, SHB, Nam A Bank... đến "ông lớn" quốc doanh như Vietcombank, VietinBank, tất cả đều đang hướng về VIFC như một bước đệm để “ra biển lớn”, tăng khả năng kết nối với quốc tế cũng như tạo dư địa phát triển bền vững.
(VNF) - Trong khi các định chế tài chính tăng tốc “giữ chỗ” tại trung tâm tài chính quốc tế, startup và fintech vẫn thận trọng chờ “điểm rơi hệ sinh thái” để tham gia mạnh mẽ hơn.
(VNF) - Dù không ồn ào, làn sóng “cắm cờ” tại IFC đang âm thầm diễn ra có thể định hình lại cuộc chơi của ngành chứng khoán Việt Nam.
(VNF) - Xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế không đơn thuần là mục tiêu chiến lược, mà chính là "chìa khóa" để Việt Nam tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị vốn thế giới.
(VNF) - Báo cáo tài chính quý I/2026 phác họa một bức tranh kinh doanh khởi sắc của ngành ngân hàng với những con số lợi nhuận ấn tượng. Tuy nhiên, sự lệch pha giữa tốc độ huy động vốn (vốn đang tăng trưởng nhỏ giọt) và đà hồi phục của cầu tín dụng đang tạo ra một khoảng trống thanh khoản đáng kể. Chưa kể, trong môi trường lãi suất cao, khả năng hấp thụ vốn và trả nợ của doanh nghiệp bị bào mòn, khiến nợ quá hạn có xu hướng phình to.
(VNF) - Tỷ lệ sinh lao dốc đang trở thành mối lo lớn tại nhiều nền kinh tế châu Á, buộc các chính phủ phải chật vật tìm lời giải suốt nhiều năm qua. Trong bối cảnh đó, ngày càng nhiều tỷ phú và tập đoàn lớn tung thưởng tiền mặt, trợ cấp nhà ở, hỗ trợ nuôi con... nhằm khuyến khích người trẻ sinh con và cứu cuộc khủng hoảng dân số.
(VNF) - Sự biến động địa chính trị, đặc biệt từ các xung đột năng lượng, đang tái định hình trật tự tài chính tiền tệ toàn cầu và nâng đỡ các đồng tiền gắn với hàng hóa.
(VNF) - Ngành ngân hàng khép lại năm 2025 với một mùa "bội thu" lợi nhuận khi nhiều nhà băng ghi nhận mức tăng trưởng trước thuế ấn tượng. Tuy nhiên, phía sau những con số nổi bật đó vẫn còn nhiều vấn đề đáng chú ý xoay quanh nợ xấu, tín dụng và huy động vốn hay NIM.