Hai thái cực khiến người Việt thiếu bền vững tài chính
(VNF) - Ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc AFA Capital cho rằng, giáo dục tài chính từ trường học sẽ tạo nền tảng cho thế hệ nhà đầu tư mới, hướng dòng tiền vào đầu tư dài hạn và chuyên nghiệp hơn.

Thị trường vốn không chỉ cần thêm tiền mà còn cần những nhà đầu tư có kiến thức, khả năng lập kế hoạch và chấp nhận rủi ro có tính toán.
Trao đổi với VietnamFinance, ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc AFA Capital, Giám đốc điều hành kiêm đồng sáng lập Cộng đồng Cố vấn tài chính Việt Nam (VWA), cho rằng việc phổ cập giáo dục tài chính từ trường học tạo nền tảng cho một thế hệ nhà đầu tư mới, qua đó giúp dòng tiền dịch chuyển từ tâm lý chạy theo lợi nhuận ngắn hạn sang đầu tư dài hạn và chuyên nghiệp hơn.

Người Việt vẫn hỏi “đầu tư gì có lãi” thay vì “đầu tư để làm gì”
- Ông đánh giá thế nào về việc đưa giáo dục tài chính, đặc biệt là tài chính cá nhân, vào chương trình giảng dạy ở trường học?
Ông Nguyễn Minh Tuấn: Chúng ta đều nhìn thấy rằng trong quá trình trưởng thành, xây dựng sự nghiệp, xây dựng gia đình, các quyết định đều liên quan đến tài chính, từ việc lập gia đình, chọn công việc, thu nhập cao hay thấp, mua nhà, mua xe và có một cuộc sống như thế nào. Tuy nhiên, đây cũng là một khoảng trống trong việc đào tạo của chúng ta.
Quan điểm của tôi là rất ủng hộ việc đưa tài chính, đặc biệt là tài chính cá nhân, vào nội dung giảng dạy ở các cấp học, có thể từ cấp 2 hoặc cấp 3, đặc biệt là cấp 3. Về lý thuyết, khi các em tốt nghiệp cấp 3 cũng có thể bắt đầu ra đời và xây dựng cuộc sống.
Tài chính cá nhân rất quan trọng vì có một mảng trong tài chính cá nhân là đầu tư. Đa phần chúng ta trước đây không hiểu biết nhiều về đầu tư, từ đó dẫn đến hai thái cực.
Thái cực đầu tiên là vì không biết về đầu tư nên mọi người chỉ biết đi làm và tiết kiệm. Trong khi đó, xã hội đã phát triển rất nhanh, các tài sản đầu tư ngày càng nhiều, như cổ phiếu, bất động sản và các loại tài sản đầu tư khác. Nếu chúng ta không có hiểu biết về các loại tài sản đó thì khả năng tăng trưởng tài sản cũng rất thấp, đồng thời xã hội cũng thiếu nguồn lực để phát triển những thị trường tài sản bền vững.
Thái cực thứ hai là vì không biết một hệ thống về đầu tư, không hiểu về lập kế hoạch đầu tư, không hiểu về thiết kế các mục tiêu tài chính gắn với tài sản đầu tư, không hiểu về lãi suất và các yếu tố liên quan nên chúng ta có thể chạy theo những tài sản đầu tư rủi ro hoặc mang tính chất lừa đảo, hứa hẹn lãi suất cao và cuối cùng mất toàn bộ tài sản.
Quan điểm của tôi là rất ủng hộ việc đưa tài chính cá nhân, trong đó có phần đầu tư, trở thành một nội dung học tập để mọi người được trải nghiệm những kiến thức tốt nhất trước khi bước ra cuộc đời.

- Từ thực tiễn làm việc với khách hàng, ông nhận thấy người Việt đang thiếu những kiến thức hoặc kỹ năng tài chính nào nhiều nhất? Nếu được trang bị từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, những hạn chế đó có thể được khắc phục ra sao?
Ông Nguyễn Minh Tuấn: Một vấn đề rất lớn đối với người Việt là việc hiểu về tài chính cá nhân.
Trong tài chính có rất nhiều lĩnh vực đã được dạy, bởi chúng đã được chuyên biệt hóa, chuyên môn hóa và tiêu chuẩn hóa. Ví dụ, với tài chính doanh nghiệp, chúng ta có rất nhiều hệ thống và tiêu chuẩn để có thể giảng dạy. Trong tài chính ngân hàng, chúng ta cũng có những hệ thống tương tự. Chúng ta có tài chính công.
Tuy nhiên, tài chính cá nhân có một đặc điểm rất đặc biệt, đó là nó phụ thuộc hoàn toàn vào mỗi cá nhân. Mỗi người đều có những mục tiêu riêng, khẩu vị rủi ro riêng, kiến thức, trải nghiệm và nguồn lực cũng hoàn toàn riêng biệt. Đây cũng là điều rất khó trong việc xây dựng một giáo trình chuẩn để đưa vào giảng dạy.
Tôi cho rằng những điểm còn thiếu đối với người Việt là việc lập kế hoạch tài chính cá nhân, lập kế hoạch đầu tư và kỹ năng đầu tư.
Thông thường, mọi người hay hỏi rằng đầu tư vào cái gì, mua cái gì có lợi, nhưng hoàn toàn không nói rõ dòng tiền của mình đang như thế nào, kế hoạch tài chính như thế nào và đầu tư để làm gì.
Mọi người thường chỉ nhìn đến một vấn đề là đầu tư có nghĩa là được hứa hẹn có lãi, chứ chưa để ý rằng đầu tư là một quá trình có khả năng xảy ra rủi ro mà chúng ta cần chấp nhận, cần đưa vào kế hoạch và kế hoạch quản trị rủi ro của mình.
Chương trình giáo dục tài chính nên trang bị tư duy dài hạn như quản lý rủi ro, đầu tư tích lũy và lập kế hoạch tài chính cho cuộc sống, tuy nhiên sẽ theo từng cấp độ.
Cấp độ đơn giản nhất đầu tiên là phải biết quản lý chi tiêu. Quản lý chi tiêu là bước đầu tiên để chúng ta có được tích lũy. Từ tích lũy thì chúng ta mới bắt đầu đi đầu tư.
Khi có số tiền tích lũy để đầu tư rồi, chúng ta mới xây dựng được kế hoạch đầu tư để đầu tư dài hạn với quy mô lớn hơn.
- Ông kỳ vọng việc phổ cập giáo dục tài chính từ bậc phổ thông sẽ tác động như thế nào đến chất lượng thế hệ nhà đầu tư trong tương lai?
Ông Nguyễn Minh Tuấn: Tôi nghĩ rằng khi phổ cập được giáo dục tài chính, đặc biệt cho học sinh, sinh viên, chúng ta sẽ có một cơ sở rất vững chắc cho một lớp nhà đầu tư mới.
Họ hiểu về thị trường, hiểu về đầu tư, hiểu về sản phẩm và từ đó có lựa chọn đúng đắn. Khi nói rằng nhà đầu tư sẽ theo đám đông, đó là một hiện tượng, nhưng gốc rễ của nó vẫn nằm ở việc chúng ta thiếu một hệ thống giáo dục.
Thông thường, vai trò này sẽ không nằm ở những đơn vị cung cấp sản phẩm. Bởi vì các công ty thường có mục tiêu về doanh thu và lợi nhuận, nên có xu hướng đưa những sản phẩm mà ở một mức độ nào đó có thể chưa phù hợp với khẩu vị rủi ro hoặc giai đoạn của khách hàng.
Ví dụ, các công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ margin sẽ rất thích các nhà đầu tư mua đi bán lại nhiều. Tuy nhiên, về lý thuyết đầu tư, điều đó có thể không phù hợp với mọi nhà đầu tư mà có thể phù hợp với những nhà đầu tư chuyên nghiệp hơn. Đó là vấn đề sẽ xảy ra trên thị trường.

- Khi đưa giáo dục tài chính vào hệ thống giáo dục, theo ông Việt Nam cần lưu ý điều gì khi tham khảo các mô hình quốc tế?
Ông Nguyễn Minh Tuấn: Tôi nghĩ đưa vào hệ thống giáo dục là điều nên học hỏi, tuy nhiên chúng ta cũng phải cân nhắc rất kỹ lưỡng ở hai góc độ.
Góc độ đầu tiên là thị trường tài chính Việt Nam cũng mới ở giai đoạn đầu phát triển. Nếu chúng ta muốn áp dụng một cách máy móc, lấy kiến thức của nước ngoài đơn thuần áp dụng vào Việt Nam thì đâu đó sẽ có những điểm chưa phù hợp.
Chúng ta cần xuất phát từ thực tiễn của thị trường Việt Nam, thực tiễn của con người Việt Nam, thói quen sinh hoạt của người Việt Nam để đưa ra chương trình phù hợp.
Tôi nhận thấy rất nhiều chương trình quốc tế hoặc chương trình mang tính chất tiêu chuẩn quốc tế được đưa vào Việt Nam và áp dụng máy móc, dẫn đến những hệ quả không phù hợp. Những tiêu chuẩn đó được xây dựng trên nền tảng những thị trường đã phát triển, có hàng trăm năm phát triển thị trường tài chính, trong khi thị trường Việt Nam mới phát triển khoảng 20 năm trở lại đây.
Điểm đầu tiên là chúng ta nên học tập. Nhưng điểm tiếp theo là phải cải biến thế nào cho phù hợp với điều kiện của thị trường Việt Nam.
Một ví dụ là quan niệm “tự do tài chính” với mục tiêu 1 triệu USD. Đó là một quan niệm rất thông thường ở nước ngoài, dựa trên một nghiên cứu từ thập kỷ 70 của William Bengen. Họ dựa trên mức chi tiêu trung bình của một gia đình Mỹ là khoảng 25.000 USD và mức lợi tức trung bình sau khi phân bổ danh mục 50% cổ phiếu, 50% trái phiếu là 4%. Từ 25.000 USD chia cho lợi tức 4% thì có con số 1 triệu USD.
Tuy nhiên, con số này ở Việt Nam thì tôi nghĩ hoàn toàn không phù hợp. Điểm đầu tiên là 25.000 USD cũng là một con số khá cao so với thu nhập GDP của chúng ta. Còn 4% cũng là một con số khá thấp so với lợi tức của một thị trường đang ở mức cận biên và đang chuyển sang mới nổi như Việt Nam.
Nếu chúng ta cứ máy móc tư duy tự do tài chính là 1 triệu USD thì sẽ dẫn đến hai cực. Một là mọi người thấy mục tiêu đó quá xa. Hai là mọi người sẽ chuyển sang một cách thức khác là dùng những sản phẩm tài chính rất rủi ro để nhanh chóng đạt đến con số 1 triệu USD và cuối cùng là mất tiền.
- Để Đề án đưa giáo dục tài chính vào trường học đạt hiệu quả, vai trò của doanh nghiệp tài chính, công ty quản lý tài sản và các tổ chức nghề nghiệp nên được phát huy như thế nào?
Ông Nguyễn Minh Tuấn: Tôi nghĩ nên ở góc độ cung cấp sản phẩm và kiến thức thực tiễn để những kiến thức đó không chỉ mang tính lý thuyết mà còn mang tính thực tế. Có thể phối hợp các chương trình với trường học để thực hiện việc này.
Ví dụ, AFA thường xuyên có những buổi chia sẻ với sinh viên. Chúng tôi và cộng đồng VWA tổ chức các hội thảo có các kênh tài chính, kinh doanh, chia sẻ rất nhiều video phù hợp với thực tiễn Việt Nam để mọi người có những kiến thức cơ bản về tài chính, xác định tình trạng tài chính, kế hoạch tài chính và cuối cùng xây dựng kế hoạch đầu tư, đồng thời tránh xa những rủi ro khi đầu tư.

- Trong tương lai, theo ông những chỉ số nào có thể đo được mức độ thành công của việc đưa giáo dục tài chính vào trường học?
Ông Nguyễn Minh Tuấn: Tôi nghĩ việc phát triển các thị trường tài sản, đầu tư thông qua các quỹ chuyên nghiệp sẽ là một chỉ số rất tốt.
Ví dụ, tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân ở Việt Nam hiện chịu một tỷ trọng rất lớn. Tuy nhiên, ở các thị trường tài chính phát triển thì đa phần sẽ là các quỹ chuyên nghiệp.
Khi chúng ta có nền tảng dân trí tài chính, mọi người sẽ biết cách lập kế hoạch đầu tư và tập trung nhiều vào phát triển chuyên môn của mình, có dòng tiền để tái đầu tư thông qua các sản phẩm chuyên nghiệp.
Đó là một chỉ báo rất rõ ràng. Tôi biết các đề án của Bộ Tài chính về đẳng cấp nhà đầu tư Việt Nam cũng thể hiện khá rõ các tiêu chí để xác định sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.
Nhưng để tỷ trọng đầu tư thông qua các quỹ chuyên nghiệp tăng lên sẽ không dễ dàng. Tôi cho rằng cần có sự kết hợp của phát triển kinh tế, phát triển doanh nghiệp, phát triển của thị trường chứng khoán nói chung và phát triển của các thị trường tài sản nói riêng.
Ở Việt Nam, chúng ta đều nhìn thấy các thị trường tài sản đã được hoàn thiện và chuẩn hóa. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều trường hợp thị trường vẫn chưa được nhìn nhận như một kênh đầu tư dài hạn.
Đâu đó vẫn còn tâm lý thị trường chứng khoán là một sòng bạc hoặc thị trường đầu tư có rất nhiều sản phẩm chưa bền vững. Tôi nghĩ đây sẽ là sự kết hợp giữa thị trường, cơ quan quản lý, người dân và nhà trường.
Để nhà đầu tư cá nhân Việt Nam tham gia các sản phẩm đầu tư chuyên nghiệp, đặc biệt là các quỹ, nhiều hơn, tôi nghĩ việc tích hợp những sản phẩm đầu tư và quỹ vào tài chính cá nhân sẽ rất cần những chính sách.
Ở nước ngoài có rất nhiều chính sách hỗ trợ nhà đầu tư liên quan đến thuế thu nhập và các quy định. Ví dụ, có những quy định giữa người sử dụng lao động và người lao động trong việc cùng đầu tư vào quỹ để khi về hưu, người lao động cũng có những khoản tiết kiệm cho tương lai.
Ở Việt Nam, tôi nghĩ phải xây dựng được hệ thống quỹ, đặc biệt là các quỹ hưu trí, những quỹ mà khi người dân đầu tư thì họ sẽ giảm được áp lực và gánh nặng về thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân. Tôi nghĩ chắc chắn sẽ có một sự phát triển rất lớn với ngành quỹ trong tương lai.
Chỉ có một nền tảng dân trí tài chính phát triển thì chúng ta mới có một thị trường phát triển. Đó cũng là cơ sở để các nhà đầu tư nước ngoài nhìn và đánh giá thị trường của chúng ta là một thị trường phát triển, từ đó chúng ta cũng có thể thu hút họ vào Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn ông!
Giáo dục tài chính trong trường học ở Mỹ, Canada và lộ trình gợi ý cho Việt Nam
Khảo sát hiện trạng khu đô thị 200ha vừa được Đà Nẵng gỡ 'nút thắt' pháp lý
(VNF) - Việc TP.Đà Nẵng chính thức giao đất trở lại cho dự án Khu đô thị Thương mại dịch vụ Bắc Hội An được kỳ vọng sẽ giải phóng nguồn lực đất đai bị đóng băng và tạo xung lực mới cho thị trường.




