'Việt Nam đã tạo nên kỳ tích kinh tế nhưng không thể tiếp tục theo quán tính cũ'
(VNF) - Nhìn lại chặng đường 81 năm kể từ ngày thành lập nước, TS. Huỳnh Thanh Điền, Giảng viên Đại học Nguyễn Tất Thành cho rằng, những thành tựu kinh tế Việt Nam đạt được là một “kỳ tích”, đặc biệt khi đặt trong tương quan với xuất phát điểm thấp và khoảng thời gian phát triển kinh tế thị trường chưa quá dài.
Theo ông, từ quá trình Đổi mới năm 1986, bình thường hóa quan hệ với các đối tác lớn, gia nhập WTO đến chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã từng bước xây dựng một nền kinh tế có độ mở lớn, thu hút mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài và trở thành một điểm đến đáng chú ý trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Từ nền kinh tế bao cấp đến một nền kinh tế có độ mở lớn
- Nhìn lại 81 năm kể từ ngày thành lập nước, ông đánh giá đâu là những thành tựu nổi bật nhất của kinh tế Việt Nam?
TS. Huỳnh Thanh Điền: Nếu nói về thành tựu kinh tế, theo tôi đây thực sự là một thành tựu rất lớn, có thể gọi là một kỳ tích.
Nếu nhìn lại, Việt Nam chính thức thực hiện Đổi mới từ năm 1986, chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau đó, việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và Trung Quốc tạo ra những điều kiện rất quan trọng để Việt Nam mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài.
Đến nay, Việt Nam đã bước vào ngưỡng một trong những quốc gia có thu nhập trung bình, trung bình cao. Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam ký kết nhiều hiệp định thương mại và trở thành một nền kinh tế có độ mở rất lớn.
Một điều tôi ấn tượng nữa là trong những năm gần đây, đầu tư nước ngoài tăng rất cao, năm sau cao hơn năm trước. Xuất khẩu cũng tăng trưởng mạnh. Việt Nam đang trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế.
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng thuộc nhóm cao trên thế giới. Nếu nhìn bằng những con số, quy mô GDP của Việt Nam hiện đã nằm trong nhóm khoảng 30 nền kinh tế lớn. Thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, tỷ lệ nghèo đói giảm đáng kể.
Một thành tựu rất rõ khác là đường lối đối ngoại. Việt Nam ngày càng cởi mở với quốc tế, tạo được niềm tin để các nước và các nhà đầu tư đến hợp tác, làm ăn.
Tôi cho rằng những thành tựu đó bắt nguồn từ quá trình đổi mới, trước hết là chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường năm 1986; sau đó là bình thường hóa quan hệ với Mỹ và Trung Quốc, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Kết quả đạt được là nhờ đường lối phát triển kinh tế, đối ngoại và hội nhập đúng đắn. Trong nước, Việt Nam cũng từng bước điều hành nền kinh tế theo các thông lệ quốc tế, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, trong đó Nhà nước tập trung xây dựng luật pháp và kiến tạo môi trường kinh doanh.
Chính những thay đổi đó tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Trong một khoảng thời gian không quá dài, Việt Nam đã đạt được những kết quả như vậy. Vì thế, tôi cho rằng đây là một kỳ tích chứ không phải một kết quả bình thường.
- Từ một nền kinh tế có xuất phát điểm rất thấp, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực. Theo ông, đâu là những động lực quan trọng nhất tạo nên sự chuyển mình này?
TS. Huỳnh Thanh Điền: Có nhiều yếu tố, nhưng theo tôi, quan trọng nhất vẫn là đường lối đối ngoại.
Việt Nam hiện kiên định với đường lối sẵn sàng làm bạn với các nước trên thế giới, hội nhập sâu rộng và ký kết nhiều hiệp định thương mại. Chúng ta sẵn sàng hợp tác với các nước, không đứng về phía này để chống phía kia.
Việt Nam cũng là một quốc gia hội nhập, thân thiện và ngày càng trở thành một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Khi các quốc gia gặp thiên tai, động đất hay những vấn đề cần hỗ trợ, Việt Nam cũng tham gia đóng góp. Điều đó tạo ra hình ảnh tích cực và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Bên cạnh đó, Việt Nam có sự ổn định về chính trị. Đây là yếu tố mà các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, bởi khi bỏ vốn cho một dự án, họ thường phải tính toán thời gian thu hồi vốn trong nhiều năm.
Một chính sách nhất quán và ổn định sẽ tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Việt Nam có lợi thế ở điểm này khi đường lối phát triển được duy trì nhất quán.
Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao và đưa ra những hành động cụ thể như đầu tư hạ tầng, cải cách thể chế, nâng cao năng lực của nền kinh tế. Những cam kết này cũng tạo thêm cơ hội cho nhà đầu tư và gửi đi thông điệp rằng Việt Nam đang mở rộng không gian phát triển.
Cùng với đó là quá trình cải cách khá quyết liệt, từ sắp xếp lại địa phương, cắt giảm các điều kiện kinh doanh không cần thiết đến cải cách chính sách. Những thay đổi này được cộng đồng quốc tế và các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài quan tâm.
Trong bối cảnh thế giới thay đổi, chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng quay trở lại, các nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến chi phí mà còn tìm kiếm những địa điểm an toàn và gần thị trường tiêu thụ.
Việt Nam có lợi thế ở cả hai yếu tố này. Đây là một nền kinh tế tương đối ổn định, có dân số trẻ và nằm trong khu vực ASEAN, nơi thị trường tiêu thụ còn nhiều tiềm năng.
Tuy nhiên, kinh tế chỉ là một phần. Các vấn đề kinh tế, xã hội và con người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chẳng hạn, khi phát triển công nghiệp, Việt Nam cần lực lượng công nhân, đồng nghĩa với việc phải quan tâm đến nhà ở xã hội và điều kiện sống của người lao động.
Đây là vấn đề xã hội nhưng đồng thời tác động trực tiếp đến kinh tế. Khi Nhà nước có chính sách tốt về nhà ở, doanh nghiệp sẽ yên tâm hơn trong việc đầu tư và tuyển dụng lao động.
- Một trong những thay đổi lớn nhất của Việt Nam là quá trình mở cửa và hội nhập, từ thu hút FDI, tham gia chuỗi cung ứng đến ký kết hàng loạt FTA. Ông đánh giá thế nào về vai trò của hội nhập đối với sự phát triển của Việt Nam trong 81 năm qua?
TS. Huỳnh Thanh Điền: Những con số về thành tựu kinh tế Việt Nam gắn rất chặt với các sự kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Trước khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận và Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn. Mỹ là một thị trường lớn, trong khi Trung Quốc vừa là thị trường tiêu thụ quan trọng, vừa cung cấp nhiều yếu tố đầu vào với chi phí cạnh tranh.
Khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ và Trung Quốc, nền kinh tế có sự chuyển biến rất rõ. Điều đó cho thấy quan hệ quốc tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế.
Đến năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO. Khi tham gia tổ chức này, Việt Nam phải từng bước điều chỉnh luật pháp để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Đây chính là một áp lực nhưng đồng thời cũng là động lực để cải cách thể chế kinh tế thị trường.
Khi Việt Nam ký các hiệp định thương mại, chúng ta phải sửa đổi luật pháp và chính sách để phù hợp với những cam kết đã đưa ra. Nếu luật pháp quá khác biệt, doanh nghiệp nước ngoài sẽ khó hoạt động.
Vì vậy, hội nhập không chỉ giúp mở rộng thị trường mà còn tạo áp lực để Việt Nam cải cách thể chế. Sau khi gia nhập WTO, hệ thống pháp luật kinh tế được hoàn thiện nhanh hơn, dòng vốn đầu tư, xuất nhập khẩu tăng lên và Việt Nam dần trở thành một nền kinh tế có độ mở lớn.
Hội nhập đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng và tạo việc làm. Doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam cũng tạo ra cơ hội để doanh nghiệp trong nước học hỏi về công nghệ, quản trị và cách thức sản xuất, dù mức độ lan tỏa hiện vẫn còn nhiều dư địa để cải thiện.
Điểm đáng chú ý là Việt Nam ngày càng chuyển từ hội nhập thụ động sang chủ động. Nếu trước đây chúng ta chờ đối tác đến đàm phán, thì hiện nay Việt Nam chủ động tìm kiếm và ký kết các hiệp định song phương, đa phương, đồng thời thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nền kinh tế.
Điều này phù hợp với xu hướng thương mại thế giới hiện nay, khi bên cạnh các hiệp định đa phương, các nước ngày càng coi trọng quan hệ song phương.
Việt Nam có thể vừa tham gia các hiệp định đa phương, vừa chủ động xây dựng quan hệ song phương với những nền kinh tế lớn. Chính sự chủ động đó giúp Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn trong mắt cộng đồng quốc tế.

Muốn tăng trưởng nhanh phải tạo nền tảng cho những năm tiếp theo
- Nếu trước đây lợi thế của Việt Nam chủ yếu đến từ lao động giá rẻ và chi phí sản xuất cạnh tranh, thì hiện nay nền kinh tế đang hướng đến đổi mới sáng tạo, công nghệ, kinh tế số và tăng trưởng xanh. Ông nhìn nhận sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng này đang diễn ra đến đâu?
TS. Huỳnh Thanh Điền: Đây không chỉ là câu chuyện của Việt Nam mà là xu hướng chung của các nước đang phát triển.
Trước đây, nhiều quốc gia lựa chọn phát triển dựa trên lợi thế lao động giá rẻ, tài nguyên và thu hút đầu tư nước ngoài. Việt Nam cũng đi theo con đường đó. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô đầu tư, sử dụng nhiều lao động và khai thác tài nguyên.
Nhưng những lợi thế này đang dần chạm ngưỡng. Lao động giá rẻ không còn là lợi thế bền vững khi thu nhập tăng lên và dân số bắt đầu già hóa. Nếu tiếp tục phát triển theo quán tính cũ, nền kinh tế có nguy cơ mắc kẹt ở bẫy thu nhập trung bình.
Muốn vượt qua ngưỡng này, Việt Nam phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng, không thể tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ và tài nguyên. Điều quan trọng là đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo, tăng năng suất và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.
Theo tôi, Việt Nam đã có bước chuyển trong khoảng 5 năm trở lại đây. Một số ngành đóng góp vào tăng trưởng đã có hàm lượng khoa học công nghệ cao hơn. Những lĩnh vực mới như công nghệ xanh, các giải pháp công nghệ, máy móc thiết bị phục vụ chuyển đổi của doanh nghiệp cũng bắt đầu phát triển.
Kinh tế số ngày càng đóng góp quan trọng vào GDP. Thương mại điện tử là một ví dụ rõ ràng, với tốc độ tăng trưởng rất nhanh trong những năm qua.
Điều đáng mừng là Việt Nam đang có khả năng nắm bắt những lĩnh vực mới. Đội ngũ doanh nhân cũng ngày càng hiểu biết, chuyên nghiệp và năng động hơn.
Năng suất lao động đang được cải thiện, những ngành nghề mới đang hình thành và những không gian, dư địa tăng trưởng mới đang được kiến tạo. Tôi cho rằng đây là hướng đi đúng đắn để Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
- Việt Nam đang đặt ra mục tiêu rất tham vọng về tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người và trở thành nước phát triển. Theo ông, nền kinh tế cần tạo ra những thay đổi mang tính đột phá nào để vừa tăng trưởng nhanh vừa bảo đảm chất lượng?
TS. Huỳnh Thanh Điền: Tăng trưởng nhanh nhưng phải đi kèm nền tảng căn cơ. Đây là điều kiện tiên quyết.
Nếu chỉ thúc đẩy tăng trưởng trong một năm bằng cách mở rộng tín dụng nhưng không tạo ra hàng hóa, dịch vụ và năng lực sản xuất tương ứng, nền kinh tế có thể đối mặt với lạm phát. Khi đó phải thắt chặt lại, dẫn đến những năm sau không thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao.
Vì vậy, muốn tăng trưởng cao phải đi kèm những bước đi có tính toán và thận trọng.
Theo tôi, trước mắt cần làm tốt hai việc.
Thứ nhất, đối với các hoạt động kinh tế hiện hữu, cần tập trung cơ cấu lại theo hướng nâng năng suất thay vì chỉ mở rộng quy mô. Chẳng hạn, thay vì xây thêm nhà máy và tuyển thêm nhiều lao động, doanh nghiệp có thể đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực để cùng một số lượng lao động tạo ra năng suất và giá trị cao hơn.
Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời xây dựng một hệ sinh thái kinh doanh hấp dẫn.
Một vấn đề rất đáng lưu ý là khu vực FDI hiện đóng góp lớn vào xuất khẩu nhưng các yếu tố đầu vào của nhiều doanh nghiệp FDI vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu. Nếu doanh nghiệp trong nước có thể sản xuất và cung ứng những đầu vào này, thay thế một phần nhập khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, đóng góp vào tăng trưởng sẽ rất lớn và mang tính nền tảng.
Do đó, cần tạo hệ sinh thái để doanh nghiệp trong nước hình thành chuỗi cung ứng, nâng cao tính chủ động và tăng liên kết với khu vực FDI.
Thứ hai, Việt Nam phải kiến tạo những không gian và dư địa tăng trưởng mới.
Việc đầu tư hạ tầng có thể hình thành những hành lang kinh tế mới. Định hướng phát triển đô thị gắn với giao thông cũng tạo ra những không gian kinh tế mới, kéo theo nhu cầu tiêu dùng và dịch vụ mới.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn nhiều dư địa có thể khai thác như kinh tế tầm thấp, kinh tế dưới lòng đất hay những mô hình kinh tế mới.
Trong bối cảnh dân số già hóa, thị trường phục vụ người cao tuổi cũng sẽ mở rộng. Người cao tuổi không chỉ là nhóm tiêu dùng mà trong điều kiện phù hợp còn có thể tiếp tục tham gia thị trường lao động.
Nếu có cơ chế, chính sách phù hợp, Việt Nam có thể tạo thêm nhiều dư địa tăng trưởng mới.
Cuối cùng, cần tiếp tục cam kết xây dựng một môi trường kinh doanh đáng tin cậy và thông thoáng.
Thực tế vẫn còn những vấn đề cần cải thiện như môi trường kinh doanh, thủ tục và những vướng mắc liên quan đến thuế. Có doanh nghiệp muốn đầu tư, phát triển nhưng mất nhiều thời gian cho thủ tục, qua đó làm mất đi cơ hội kinh doanh.
Chính phủ cần tiếp tục lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp và cải cách thường xuyên. Cơ hội đang có, nhưng điều quan trọng là phải tạo điều kiện thông thoáng để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư.
Tôi tin tinh thần của doanh nhân Việt Nam rất năng động. Một quốc gia còn trẻ mà đạt được những thành tựu như hôm nay cho thấy doanh nhân Việt Nam có khả năng thích ứng và nắm bắt cơ hội rất tốt. Phần còn lại là Nhà nước phải tiếp tục kiến tạo một môi trường đủ thuận lợi để doanh nghiệp tin tưởng, mạnh dạn bỏ vốn và làm ăn lâu dài.
Trân trọng cảm ơn ông!
‘Găm đất chờ tăng giá phải chịu chi phí đủ lớn để giảm động lực đầu cơ’
- Mục tiêu kinh tế số góp 30% GDP: Việt Nam phải gỡ 5 'nút thắt' lớn 15/08/2026 13:45
- Cải cách thể chế tài chính, mở khóa nguồn lực tăng trưởng 15/08/2026 07:30
- Hai điểm nối quan trọng giúp DN Việt mở cửa Uganda vào thị trường 1,4 tỷ dân 15/08/2026 10:30
Đưa giáo dục tài chính vào trường học: Phổ cập kiến thức tài chính toàn dân
(VNF) - Quyết định 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045. Một trong những định hướng của Đề án là phổ cập kiến thức tài chính cho người dân, với mục tiêu đưa giáo dục tài chính vào trường học trong năm 2027, qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường tài chính.
Cơ hội cho chứng khoán Việt từ danh sách cổ phiếu lọt rổ FTSE GEIS
(VNF) - Chiều tối 21/8, FTSE Russell đã công bố kết quả rà soát bán niên tháng 9/2026 đối với bộ chỉ số FTSE Global Equity Index Series (GEIS) tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, không bao gồm Nhật Bản và Trung Quốc.
Dòng vốn tư nhân cần chính sách có thể dự báo
(VNF) - Khu vực kinh tế tư nhân được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, theo chuyên gia Trần Hữu Huỳnh, rào cản lớn nhất hiện nay không phải là thiếu cơ chế, chính sách mà là khoảng cách giữa chính sách và thực thi.
VETC, Viettel Money và bài toán thiết kế lại chính sách thu phí
(VNF) - Sau khi VETC và Viettel Money tạm dừng thu phí dịch vụ ví điện tử trước phản ứng của người dùng, câu chuyện đặt ra yêu cầu nhìn lại cách thiết kế phí, bảo đảm quyền lựa chọn và minh bạch thông tin đối với dịch vụ thanh toán gắn với giao thông.
VETC và ePass thu phí: Làm rõ ranh giới giữa 'được thu' và 'tự ý áp phí'
(VNF) - Từ tháng 8/2026, VETC và ePass bắt đầu thu phí quản lý tài khoản 6.600 đồng/tháng với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng với tổ chức, doanh nghiệp. Luật sư Nguyễn Văn Đồng cho rằng, việc doanh nghiệp được phép thu phí không đồng nghĩa với quyền tự ý áp thêm nghĩa vụ tài chính lên khách hàng, mà còn phải xem xét hợp đồng, điều kiện giao dịch chung và cách thức thông báo, thay đổi chính sách.
Cải cách thể chế tài chính, mở khóa nguồn lực tăng trưởng
(VNF) - Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn mới, Việt Nam không chỉ cần thêm vốn mà quan trọng hơn là phải “mở khóa” các nguồn lực đang bị kìm hãm bởi những rào cản thể chế, trong đó có thể chế kinh tế nói chung và thể chế tài chính nói riêng.
Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự: Tháo gỡ cho DN nhưng tránh bị lợi dụng để che dấu sai phạm
(VNF) - Dự thảo Luật Hình sự bổ sung cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm kinh tế đang mở ra kỳ vọng tháo gỡ tâm lý "sợ sai, không dám làm" của doanh nghiệp, góp phần bảo vệ các dự án còn khả năng phục hồi. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng băn khoăn liệu đây có trở thành "lá chắn" bị lợi dụng để kéo dài xử lý hoặc né tránh trách nhiệm hình sự nếu thiếu tiêu chí và cơ chế giám sát chặt chẽ.
Đầu tư công – quản trị tư: Tối ưu hóa hiệu quả tài sản hạ tầng
(VNF) - Sự dịch chuyển từ tư duy “Nhà nước làm hết” sang mô hình hợp tác công tư (PPP) với vai trò chủ đạo của “quản trị tư” đang tạo ra một cuộc cách mạng trong phát triển hạ tầng tại Việt Nam.
Khung pháp lý mới tạo chuyển biến trong xử lý tài sản bảo đảm
(VNF) - Việc luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm đang tạo ra bước ngoặt lớn cho công tác xử lý nợ xấu. Tại TP.HCM, 80% yêu cầu của các tổ chức tín dụng được tòa án chấp thuận, cho thấy hệ thống pháp lý đã thực sự "mở đường" và bảo vệ quyền lợi của chủ nợ chính danh.
Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI
(VNF) - Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI khai mạc vào ngày 3/8 và diễn ra theo 2 đợt. Trong đó, đợt 1 từ ngày 3/8 đến sáng ngày 13/8; đợt 2 từ ngày 19/8 đến ngày 24/8.
'Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam không còn là vốn'
(VNF) - Theo GS.TS Trần Thọ Đạt, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn là vốn mà là thể chế và năng lực thực thi, những yếu tố quyết định khả năng tạo dựng động lực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực quốc gia.
'Không thể để doanh nghiệp tư nhân tiếp tục chạy trong chiếc áo chật'
(VNF) - Kinh tế tư nhân đang được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam. Tuy nhiên, theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nếu những điểm nghẽn về thể chế, vốn, đất đai và môi trường kinh doanh không được tháo gỡ quyết liệt, doanh nghiệp tư nhân sẽ vẫn phải "chạy trong chiếc áo chật", khó bứt phá dù cơ hội phát triển đang rất lớn.
'Không thể dùng một chính sách cho cả khu vực kinh tế tư nhân'
(VNF) - Sau nhiều năm nghiên cứu về phát triển công nghiệp và kinh tế Việt Nam, GS. Trần Văn Thọ, Giáo sư Kinh tế tại Đại học Waseda (Tokyo, Nhật Bản), cho rằng Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị là một bước ngoặt quan trọng khi lần đầu xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
FTZ: Mảnh ghép thể chế để Việt Nam thoát 'bẫy gia công'
(VNF) - FTZ Hải Phòng không chỉ là một chính sách ưu đãi mới mà có thể trở thành "mảnh ghép thể chế" giúp Việt Nam nâng cấp vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Xuất khẩu nhiều thực hưởng không bao nhiêu: Bài toán đằng sau kim ngạch gần 1.000 tỷ USD
(VNF) - Khi thế giới bước vào giai đoạn cạnh tranh bằng chuỗi cung ứng, công nghệ và khả năng chống chịu, câu hỏi được đặt ra không còn là "Việt Nam xuất khẩu bao nhiêu", mà là "bao nhiêu giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam".
Đầu tư công phải là 'vốn mồi' thay vì chỉ là hoàn thành kế hoạch chi tiêu
(VNF) - Với quy mô vốn đầu tư công hơn 1,08 triệu tỷ đồng - lớn nhất từ trước đến nay, Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào động lực này để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm 2026. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng thành công không chỉ được đo bằng tỷ lệ giải ngân, mà còn ở khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, khơi thông đầu tư tư nhân, nâng cao năng lực sản xuất và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Phá bỏ ‘bẫy cử nhân’, kiến tạo nguồn nhân lực số cho nền kinh tế dữ liệu Việt Nam
(VNF) - Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý trong phát triển nguồn nhân lực. Chúng ta tự hào sở hữu đội ngũ kỹ sư công nghệ thông tin đông đảo, nhưng lại đang đối mặt với "cơn khát" nhân sự có khả năng biến dữ liệu thành giá trị kinh doanh.
Chủ tịch TAT Law Firm: Không chỉ ‘lá chắn pháp lý’, Petrovietnam cần cơ chế chia sẻ rủi ro
(VNF) - Luật sư Trương Anh Tú, Chủ tịch TAT Law Firm, cho rằng Điều 64 Luật Dầu khí năm 2022 đã tháo gỡ nỗi lo trách nhiệm trong hoạt động tìm kiếm, thăm dò. Tuy nhiên, để Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Viêt Nam (Petrovietnam) tiếp tục đầu tư gia tăng trữ lượng, điều cần thiết không chỉ là "lá chắn pháp lý" mà còn là cơ chế chia sẻ rủi ro
Ổn định kinh tế vĩ mô là 'mỏ neo' để Việt Nam tăng tốc
(VNF) - Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đòi hỏi nguồn lực lớn mà còn yêu cầu những cải cách mạnh mẽ về thể chế, môi trường kinh doanh và năng lực nội tại của nền kinh tế.
Agribank lan tỏa nghĩa tình tri ân nhân thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng
(VNF) - Giữa những ngày tháng Bảy lịch sử, khi không khí tri ân bao trùm khắp mọi miền Tổ quốc, dấu ấn Agribank - định chế tài chính hàng đầu, “Ngân hàng vì cộng đồng” càng trở nên sâu đậm trong lòng nhân dân bằng hành trình kết nối yêu thương, lan tỏa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Mỹ áp thuế mới, dệt may Việt Nam đối mặt áp lực kép
(VNF) - Mỹ chính thức áp mức thuế mới đối với hàng hóa từ 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam, với lý do tăng cường thực thi các quy định về lao động cưỡng bức, song quyết định này đã vấp phải phản ứng từ nhiều nền kinh tế.
Bán bảo hiểm kiểu Thái Sơn TCA: Cảnh báo thông tin lệch chuẩn, gây hệ lụy cho thị trường
(VNF) - Dự án Thái Sơn TCA của Công ty Cổ phần TC Advisors (TCA) được giới thiệu là "chương mới" của ngành bảo hiểm, với những chính sách "ưu việt".
Cảnh báo 'điểm đỏ' cho kinh tế Việt Nam: Tín dụng có thể vọt lên 180% GDP vào năm 2030
(VNF) - Để duy trì mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần một lượng vốn khổng lồ. Tuy nhiên, theo TS. Cấn Văn Lực, nền kinh tế đang phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Nếu xu hướng này tiếp diễn, tỷ lệ tín dụng/GDP có thể lên tới 180% vào năm 2030, mức được đánh giá là tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với ổn định tài chính.
Gọi dòng FDI vào giáo dục: Đồng hành chiến lược nâng tầm nguồn nhân lực quốc gia
(VNF) - Dòng vốn FDI tại Việt Nam không còn chỉ hướng đến những ngành sản xuất truyền thống mà đang mở rộng và dịch chuyển, tham gia sâu vào các lĩnh vực dịch vụ cao cấp, tạo giá trị dài hạn như giáo dục. Điều này phản ánh nhận thức rõ nét của các định chế tài chính quốc tế về chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố mang tính quyết định đối với năng lực cạnh tranh và là nền tảng cho tăng trưởng GDP bền vững trong giai đoạn phát triển mới.
Đưa giáo dục tài chính vào trường học: Phổ cập kiến thức tài chính toàn dân
(VNF) - Quyết định 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045. Một trong những định hướng của Đề án là phổ cập kiến thức tài chính cho người dân, với mục tiêu đưa giáo dục tài chính vào trường học trong năm 2027, qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường tài chính.
Toàn cảnh cao tốc La Sơn – Hòa Liên sau khi mở rộng 4 làn xe
(VNF) - Tuyến cao tốc La Sơn – Hòa Liên dài gần 66km, nối TP. Huế với TP. Đà Nẵng, đang được hoàn thiện những hạng mục cuối cùng sau khi cơ bản hoàn thành mở rộng lên 4 làn xe.
































































