VIFC: Mô hình phát triển và lộ trình kiến tạo vị thế quốc gia
TS. Nguyễn Như Quỳnh - Viện trưởng, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính -
08/04/2026 09:00 (GMT+7)
(VNF) - Lộ trình chiến lược kiến tạo Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC) phải được đặt trong tư duy phát triển thể chế dài hạn, chứ không phải tư duy dự án ngắn hạn.
Việc xây dựng trung tâm tài chính quốc tế được xem là bước đi chiến lược nhằm nâng cao vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị tài chính toàn cầu, thúc đẩy huy động vốn, đổi mới sáng tạo và hội nhập sâu rộng. Trong bối cảnh dịch chuyển dòng vốn toàn cầu và cạnh tranh giữa các trung tâm tài chính ngày càng gay gắt, Việt Nam cần lựa chọn mô hình phù hợp và triển khai lộ trình phát triển có trọng tâm, trọng điểm để từng bước hình thành một hệ sinh thái tài chính hiện đại, có khả năng kết nối hiệu quả với thị trường khu vực và quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực chống chịu trước các cú sốc bên ngoài; qua đó kiến tạo vị thế của Việt Nam trong mạng lưới tài chính toàn cầu.
1. Mô hình phát triển trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (VIFC)
Khái niệm trung tâm tài chính quốc tế (International Financial Center - IFC) được định nghĩa theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, cách hiểu chung nhất (Z/Yen Group (2024), IMF 2022), IFC là một khu vực hoặc đô thị tập trung mật độ cao các định chế tài chính trong và ngoài nước, nơi diễn ra các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính xuyên biên giới với quy mô lớn và mức độ hội nhập cao vào hệ thống tài chính toàn cầu. IFC thường được thiết kế với các điều kiện thể chế và môi trường kinh doanh thuận lợi, bao gồm khung pháp lý minh bạch, cơ chế thuế cạnh tranh, mức độ tự do hóa tài chính tương đối cao và hạ tầng tài chính - công nghệ hiện đại, nhằm thu hút dòng vốn quốc tế và các tổ chức tài chính toàn cầu
Thực tiễn cho thấy không tồn tại một khuôn mẫu IFC chung cho tất cả các quốc gia; thay vào đó, các trung tâm này được hình thành và phát triển dựa trên lợi thế so sánh, mức độ phát triển của thị trường tài chính và định hướng chiến lược riêng của từng nền kinh tế. Về cơ bản, có thể phân thành ba mô hình chính:
(1) Mô hình trung tâm tài chính toàn diện, tiêu biểu như London và New York, cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính từ ngân hàng, chứng khoán đến các sản phẩm phái sinh phức tạp. Mô hình này đặc trưng bởi mức độ tự do hóa tài chính cao, thị trường vốn có độ sâu lớn và hệ thống pháp lý phát triển, song đòi hỏi nền tảng kinh tế - thể chế vững mạnh và quá trình tích lũy dài hạn.
(2) Mô hình trung tâm tài chính khu vực, đóng vai trò trung gian kết nối dòng vốn giữa các nền kinh tế trong khu vực với thị trường toàn cầu. Các trung tâm này tập trung phát triển dịch vụ quản lý tài sản, tài chính thương mại và các hoạt động tài chính xuyên biên giới, với mức độ mở cửa cao nhưng vẫn duy trì cơ chế quản lý rủi ro phù hợp.
(3) Mô hình trung tâm tài chính chuyên biệt, được phát triển tại một số quốc gia nhằm khai thác lợi thế riêng, như tài chính xanh, fintech hoặc dịch vụ tài chính quốc tế gắn với ưu đãi thuế và môi trường pháp lý linh hoạt.
Xu hướng phát triển IFC hiện nay cho thấy nhiều quốc gia lựa chọn mô hình “lai”, kết hợp giữa mô hình trung tâm khu vực và mô hình tài chính chuyên biệt nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, một trung tâm tài chính cũng có thể được tổ chức tại tại nhiều địa điểm khác nhau thay vì mô hình IFC được tập trung tại một đô thị duy nhất.
Bảng 1. Các mô hình IFC
Mô hình
Đặc trưng chính
Ưu điểm
Hạn chế
Mức độ phù hợp với Việt Nam
Một trung tâm thống nhất, nhiều địa điểm
Một khuôn khổ thể chế, một chuẩn quản trị, bảo đảm toàn bộ hệ thống hoạt động theo cùng một chuẩn mực, từ đó tạo niềm tin cho nhà đầu tư quốc tế.
Tận dụng lợi thế của các thành phố/địa điểm; giảm cạnh tranh nội bộ; thuận lợi cho phát triển theo giai đoạn; giúp giảm áp lực hạ tầng và rủi ro tập trung, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng và tăng tính linh hoạt của hệ thống.
Đòi hỏi cơ chế điều phối rất chặt; cần phân vai rõ để tránh chồng lấn chức năng.
Phù hợp cao nhất với điều kiện Việt Nam hiện nay.
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Mỗi mô hình IFC đều có ưu điểm, hạn chế riêng và phù hợp với các điều kiện khác nhau của từng quốc gia. Việc lựa chọn mô hình IFC cần dựa vào các tiêu chí đánh giá, đảm bảo phù hợp với yêu cầu chiến lược dài hạn, đồng thời phản ánh điều kiện thực tiễn của từng quốc gia. Trong đó:
- Mô hình IFC được chọn phải đáp ứng tiêu chí về tính thống nhất thể chế, tức là bảo đảm một khuôn khổ pháp lý minh bạch, ổn định, dễ dự báo và thuận lợi cho quản lý, giám sát ở tầm quốc gia.
- Mô hình IFC phải tận dụng được lợi thế so sánh của từng địa điểm phát triển, qua đó tránh phân tán nguồn lực nhưng vẫn tạo dư địa cho chuyên môn hóa chức năng.
- Mô hình IFC có khả năng hình thành hệ sinh thái tài chính và thanh khoản thị trường trong trung hạn, nghĩa là có sức hấp dẫn đủ lớn đối với các định chế tài chính, nhà đầu tư, chuyên gia và các dịch vụ hỗ trợ quốc tế.
- Mô hình IFC phải bảo đảm chi phí điều phối và chi phí giám sát ở mức hợp lý, nhất là trong bối cảnh IFC gắn với dòng vốn xuyên biên giới, sản phẩm tài chính mới và yêu cầu kiểm soát rủi ro cao hơn thông thường.
- Mô hình IFC được lựa chọn phải phù hợp với năng lực hấp thụ và trình độ phát triển hiện nay của quốc gia, cho phép triển khai theo lộ trình từng bước, có thể điều chỉnh sau quá trình vận hành thực tế.
Nghiên cứu quốc tế (WB, IMF, OECD) nhấn mạnh rằng yếu tố quyết định thành công của một IFC không chỉ nằm ở quy mô thị trường, mà quan trọng hơn là thiết kế thể chế vượt trội, bao gồm khung pháp lý phù hợp chuẩn mực quốc tế, cơ chế bảo vệ nhà đầu tư hiệu quả và mức độ tự do hóa tài chính được kiểm soát hợp lý. Đối với Việt Nam hiện nay, bối cảnh quốc tế vừa mở ra nhiều cơ hội, vừa đặt ra áp lực cải cách cho Việt Nam trong lộ trình xây dựng IFC.
Ngoài ra, hệ thống tài chính toàn cầu đang đối diện những thay đổi mang tính cấu trúc với các xu hướng phát triển về fintech và tiền kỹ thuật số, chuẩn mực toàn cầu khắt khe hơn (DeFi, Basel III, chuẩn chống rửa tiền AML/CFT, yêu cầu minh bạch dữ liệu….) cũng đặt ra yêu cầu cần phải tăng cường cải cách để nâng cao khả năng thu hút các dòng vốn và các tập đoàn tài chính quốc gia. Đây là cuộc đua không chỉ về kinh tế mà còn mang tính chiến lược. Từ góc độ này, đối với Việt Nam, việc lựa chọn mô hình trung tâm tài chính khu vực kết hợp chuyên biệt được xem là phù hợp hơn cả, cho phép tận dụng lợi thế về vị trí địa kinh tế, nhu cầu huy động vốn cho phát triển và xu hướng gia tăng của các lĩnh vực mới như tài chính xanh và công nghệ tài chính, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong quá trình mở cửa và hội nhập tài chính quốc tế.
Ngày 27/6/2025, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 222/2025/QH15 về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đồng thời xác định “Trung tâm tài chính quốc tế là khu vực có ranh giới địa lý do Chính phủ thành lập đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng, tập trung hệ sinh thái đa dạng các dịch vụ tài chính và dịch vụ hỗ trợ”. Mục tiêu phát triển IFC nhằm:
- Phát huy thế mạnh của từng thành phố, bảo đảm sự công bằng, tương hỗ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu trở thành IFC hàng đầu, nâng tầm vị thế của Việt Nam trong mạng lưới tài chính toàn cầu gắn với động lực tăng trưởng kinh tế.
- Tăng cường thu hút và tập trung các nguồn vốn trong và ngoài nước, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn quốc tế để bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Trung tâm tài chính quốc tế đóng vai trò cửa ngõ để kết nối dòng vốn toàn cầu với Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn;
- Kết nối và hỗ trợ chuỗi giá trị trong các lĩnh vực chiến lược của Việt Nam. Thông qua các dịch vụ tài chính tại Trung tâm tài chính quốc tế, hình thành cầu nối thu hút đầu tư, tài trợ cho các dự án thuộc các lĩnh vực chiến lược, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
- Thúc đẩy tài chính bền vững, khuyến khích phát triển các sản phẩm tài chính xanh và huy động nguồn lực cho các dự án chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi xanh.
Với các mục tiêu phát triển đó, Việt Nam đã lựa chọn định hướng hướng phát triển IFC như sau:
- IFC Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh định hướng phát triển trở thành Trung tâm tài chính quốc tế có hệ sinh thái tài chính toàn diện và đa dạng; cung cấp các dịch vụ tài chính truyền thống và chuyên sâu, khai thác tác động cộng hưởng, tương hỗ của các dịch vụ tài chính như: huy động vốn, đầu tư, thanh toán, phát hành và giao dịch sản phẩm tài chính, quản lý tài sản, dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ (fintech), dịch vụ tài chính xanh và các dịch vụ tài chính khác.
Hình 1. Mô hình 1 trung tâm, 2 địa điểm của IFC Việt Nam
Nguồn: Nghị định số 323/2025/NĐ-CP
IFC Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng định hướng phát triển trở thành Trung tâm tài chính quốc tế hiện đại, gắn kết chặt chẽ với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, công nghệ số và tài chính bền vững, tạo nền tảng thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình tài chính mới, tiên phong triển khai và mở rộng các sản phẩm tài sản số, thanh toán số, các nền tảng giao dịch và sàn giao dịch chuyên biệt; thúc đẩy tài trợ chuỗi cung ứng, các dịch vụ của bên thứ ba, các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi từ công chúng để bổ trợ tương hỗ với thị trường tài chính truyền thống, hình thành các sản phẩm tài chính chuyên biệt, linh hoạt và sáng tạo.
Mô hình IFC 1 trung tâm, 2 địa điểm cho thấy Việt Nam đã định hướng xây dựng một cấu trúc IFC có tính phân vai và kết nối, thay vì tập trung vào một địa điểm duy nhất; IFC sẽ đóng vai trò cửa ngõ kết nối dòng vốn quốc tế với nền kinh tế Việt Nam và rộng hơn là với một phần chuỗi giá trị của Đông Nam Á; tập trung các lĩnh vực có nhiều lợi thế, đi theo hướng phát triển chuyên sâu vào một số mảng có dư địa phát triển và phù hợp xu thế: (1) Hạ tầng chiến lược, công nghiệp nền tảng, logistics, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; (2) Cung cấp công cụ tài chính hiện đại cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn chuỗi giá trị toàn cầu; và (3) Nâng vị thế quốc gia từ tiếp nhận vốn sang đồng "kiến tạo" thị trường tài chính khu vực và quốc tế.
2. Khung pháp lý và lộ trình phát triển của IFC Việt Nam
Nếu IFC chỉ phát triển theo hướng thiên về hình thức, trong khi khả năng dẫn vốn vào sản xuất, đổi mới sáng tạo, hạ tầng và thương mại không rõ nét, thì rất khó tạo được sức sống dài hạn. Một IFC hiệu quả phải phát huy được vai trò là công cụ phục vụ nền kinh tế thực. Trong vòng 5-10 năm qua, nhiều quốc gia đã thành lập các IFC song không phải tất cả đều đạt được vị thế toàn cầu/khu vực, thậm chí nhiều IFC chỉ dừng lại ở cấp độ trung gian. Do vậy, việc hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng lộ trình phát triển phù hợp là những vấn đề mang tính cốt lõi trong phát triển IFC.
Về khung pháp lý, để hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; Chính phủ đã ban hành 08 Nghị định liên quan đến phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, hình thành khung pháp lý tương đối đầy đủ cho IFC Việt Nam với nhiều cơ chế, chính sách vượt trội được kỳ vọng sẽ tạo ra các điểm nhấn đủ mạnh để thu hút nhà đầu tư, tổ chức tài chính và doanh nghiệp công nghệ quốc tế tham gia hoạt động tại IFC. Trong bối cảnh dòng vốn trong nước hiện vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng, với tỷ lệ tín dụng trên GDP lên tới 146%, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ổn định vĩ mô, việc xây dựng IFC tại Việt Nam là nhu cầu cấp thiết nhằm tạo ra dòng vốn mới và giảm tải áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Bảng 1. Quy định pháp luật về IFC tại Việt Nam
Nghị định
Trục nội dung chính
Nội dung cốt lõi nhất
323/2025/NĐ-CP
Khung tổ chức và vận hành chung của IFC
Xác lập IFC là một thực thể pháp lý thống nhất, hoạt động tại hai địa điểm là thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; quy chế hoạt động, quy trình, tiêu chuẩn, biểu mẫu được áp dụng thống nhất; có Hệ thống hành chính một cửa điện tử; đồng thời đặt ra định hướng phát triển theo giai đoạn và cơ chế sơ kết sau 5 năm để điều chỉnh, tái cấu trúc nếu cần.
324/2025/NĐ-CP
Chính sách tài chính, thuế, kế toán và một số lĩnh vực chuyên ngành
Tạo gói ưu đãi tài chính cốt lõi cho IFC: Thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi cho ngành ưu tiên và ngành không ưu tiên; miễn thuế thu nhập cá nhân đến hết năm 2030 cho chuyên gia, nhà quản lý, người có trình độ cao; cho phép áp dụng IFRS hoặc nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung; đồng thời trao một số thẩm quyền chấp thuận, cấp phép trực tiếp cho Cơ quan điều hành trong các lĩnh vực chuyên ngành.
325/2025/NĐ-CP
Lao động và an sinh xã hội
Thiết kế cơ chế lao động rất mở cho nhân lực quốc tế: Không giới hạn tỷ lệ lao động nước ngoài; không phải giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài; thủ tục cấp, gia hạn giấy phép lao động được rút ngắn mạnh; giấy phép lao động và giấy xác nhận miễn giấy phép có thể có thời hạn dài.
326/2025/NĐ-CP
Đất đai và môi trường
Tạo cơ chế thủ tục đất đai, môi trường rút gọn và có đầu mối điều phối trong IFC: Chính quyền địa phương thực hiện quản lý nhà nước về đất đai, môi trường; cơ quan điều hành là đầu mối tiếp nhận, chuyển hồ sơ, trong đó có đăng ký môi trường; qua đó tăng tính khả thi về mặt bằng và triển khai dự án trong IFC.
327/2025/NĐ-CP
Xuất nhập cảnh, cư trú cho nhà đầu tư và chuyên gia nước ngoài
Thiết kế cơ chế cư trú cạnh tranh cho IFC: Cấp thị thực và thẻ tạm trú dài hạn cho nhà đầu tư quan trọng, chuyên gia, nhà quản lý, lao động trình độ cao; thân nhân được hưởng cơ chế tương ứng; thủ tục xử lý nhanh; một số đối tượng có thể được xem xét thường trú khi làm việc lâu dài tại IFC.
328/2025/NĐ-CP
Trung tâm trọng tài quốc tế
Tạo trụ cột giải quyết tranh chấp theo chuẩn quốc tế: Trung tâm trọng tài quốc tế được áp dụng pháp luật nước ngoài theo quy định; các bên có thể thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài, qua đó tăng tính chung thẩm và khả năng dự báo; đồng thời xác định rõ phạm vi tranh chấp được và không được giải quyết.
329/2025/NĐ-CP
Hoạt động ngân hàng, ngoại hối, an toàn hệ thống
Thiết kế cơ chế mở cửa ngân hàng có chọn lọc và kiểm soát rủi ro cao: Nhà đầu tư chỉ được lập một hiện diện trong IFC; ngân hàng thành viên không được mở rộng mạng lưới; điều kiện gia nhập của ngân hàng nước ngoài rất cao về xếp hạng tín nhiệm, quy mô tài sản, quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ.
330/2025/NĐ-CP
Sở giao dịch hàng hóa và mua bán hàng hóa, dịch vụ trong IFC
Mở đường cho thị trường giao dịch hàng hóa và phái sinh trong IFC: Cho phép nhiều nhóm hàng hóa mới, trong đó có tín chỉ các-bon và một số tài sản số; quy định trung tâm thanh toán bù trừ; đồng thời có cơ chế can thiệp khẩn cấp để bảo đảm an toàn và ổn định thị trường.
Nguồn: Tổng hợp
Về lộ trình phát triển, đề án phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM ra các chỉ tiêu đến năm 2035 sẽ trở thành trung tâm tài chính khu vực, lọt vào top 75 trung tâm tài chính toàn cầu. Đến năm 2045 trở thành trung tâm tài chính quốc tế. Trong lĩnh vực Fintech, đến năm 2035 xếp hạng trong nhóm 25 khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và thứ 3 khu vực ASEAN. Đạt được các mục tiêu này cũng là thách thức không nhỏ đối với Việt Nam, trong so sánh tương quan với các nước trong khu vực về khoảng cách kinh tế - tài chính; đổi mới sáng tạo và công nghệ tài chính; sức hút đối với các định chế tài chính. Trong đó:
+ Vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực: Vốn hóa TTCK năm 2025 của Việt Nam đạt 86,7% GDP, trong khi Singapore 134%, Malaysia 95% và Thái Lan 122%. Do đó, thanh khoản và độ sâu thị trường vốn Việt Nam chưa đủ để thu hút các định chế tài chính toàn cầu, vốn cần những “sân chơi” lớn để triển khai nghiệp vụ. Ngoài ra, Việt Nam đang ở xuất phát điểm thấp so với các nước trong khu vực. GDP/người của Việt Nam khoảng 5.000 USD, thấp hơn nhiều so với Singapore (92.000 USD), Thái Lan (8.000 USD), Malaysia (13.000 USD). Điều này ảnh hưởng đến sức cầu dịch vụ tài chính chất lượng cao cũng như khả năng tích lũy vốn nội địa - yếu tố nền tảng để hình thành trung tâm tài chính.
+ Mức độ hiện diện của các tập đoàn tài chính toàn cầu: Singapore hiện có khoảng 1.200 - 1.500 trụ sở khu vực của các tập đoàn tài chính, trong khi Việt Nam sự hiện diện của tổ chức này còn khá hạn chế và thấp hơn so với các quốc gia trong khu vực như: Thái Lan, Malaysia.
+ Xếp hạng GFCI (Global Financial Centres Index) càng củng cố khoảng cách này: Việt Nam ở vị trí 95, trong khi Singapore liên tục nằm trong Top 5, trong khi đó Thái Lan xếp thứ 102, còn Malaysia xếp thứ 51 thế giới. Điều này phản ánh sự khác biệt không chỉ ở quy mô, độ sâu thanh khoản mà cả ở chất lượng thể chế, mức độ minh bạch và năng lực quản trị rủi ro.
+ Đổi mới sáng tạo và công nghệ tài chính: Một trong những chỉ dấu quan trọng của trung tâm tài chính hiện đại là khả năng đổi mới công nghệ. Việt Nam có tỷ lệ người dùng Internet khoảng 78%, thấp hơn khá nhiều so với các nước trong khu vực Singapore (97%), Thái Lan (85%), Malaysia (98%). Bên cạnh đó, Việt Nam hiện chưa chính thức vận hành sandbox fintech, trong khi Singapore đã có hơn 200 dự án thử nghiệm từ năm 2016. Thái Lan, Malaysia đều đã triển khai sandbox ở mức độ khác nhau. Điều này cho thấy Việt Nam chậm hơn ít nhất một thập kỷ trong khung thể chế thử nghiệm đổi mới tài chính.
Bảng 2: Một số chỉ tiêu cơ bản giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN (Singapore, Thái Lan, Malaysia)
Chỉ tiêu năm 2025
Việt Nam
Singapore
Thái Lan
Malaysia
GDP/người (USD, Current Price)
5.000
92.000
8.000
13.000
Vốn hóa TTCK / GDP (%)
86,7
220
110
135
Xếp hạng GFCI (Global Financial Index)
95
4
102
51
Tỷ lệ sử dụng Internet (%)
78
97
85
98
Số trụ sở khu vực của tập đoàn tài chính quốc tế
20-40
1.200-1.500
50-80
100-150
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ IMF, WB, Cục Thống kê
3. Một số khuyến nghị
Trong điều kiện cạnh tranh giữa các IFC ngày càng dựa nhiều hơn vào chất lượng thể chế, độ tin cậy pháp lý, năng lực giải quyết tranh chấp, chất lượng nhân lực và mức độ sẵn sàng công nghệ, việc Việt Nam xây dựng IFC là một bước đi chiến lược nhằm mở rộng không gian phát triển mới cho nền kinh tế. Từ góc độ chính sách phát triển, IFC chỉ có ý nghĩa khi trở thành một “mỏ neo thể chế” đủ sức thu hút dòng vốn chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sản phẩm tài chính, hỗ trợ thương mại và đầu tư, đồng thời tạo ra lan tỏa tích cực đối với thị trường vốn trong nước.
Về lộ trình phát triển: Việc xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) của Việt Nam đến năm 2035 cần được triển khai theo 03 giai đoạn với định hướng rõ ràng, có tính kế thừa và nâng cấp qua từng bước. Cụ thể:
+ Giai đoạn 1: 2026 - 2027 - Xây nền thể chế và năng lực vận hành tối thiểu
Trong giai đoạn đầu, mục tiêu quan trọng nhất không phải là mở rộng quy mô thật nhanh mà là làm cho bộ máy có thể vận hành ổn định, minh bạch và có thể dự báo. Điều này đòi hỏi phải hoàn tất sự thống nhất giữa Nghị quyết số 222/2025/QH15 và các Nghị định triển khai của Chính phủ; đồng thời phải làm rõ cơ chế phối hợp giữa Hội đồng điều hành, cơ quan điều hành tại hai địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan. Quy chế làm việc của Hội đồng điều hành đã xác lập nền tảng ban đầu cho mối quan hệ này, nhưng hiệu quả thực sự còn phụ thuộc vào năng lực vận hành liên thông trong thực tiễn.
Giai đoạn này cũng là giai đoạn kiến tạo niềm tin thể chế. Tòa án chuyên biệt tại IFC đã được luật hóa và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026; Trung tâm trọng tài quốc tế cũng đã có khuôn khổ pháp lý riêng. Đây là hai thiết chế then chốt, bởi nhà đầu tư nước ngoài và các định chế tài chính lớn thường đánh giá mức độ hấp dẫn của một trung tâm mới nổi trước hết qua khả năng bảo vệ quyền tài sản, xử lý tranh chấp nhanh, công bằng và có thể dự báo. Nói cách khác, một IFC khó có thể thành hình thực chất nếu giải quyết tranh chấp còn chậm, thiếu nhất quán hoặc thiếu mức độ quen thuộc với thông lệ quốc tế.
Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng trong giai đoạn 2026 - 2027 là phải có “thành viên neo” và “giao dịch neo”. Theo đó, hiện nay thành viên của IFC có thể bao gồm ngân hàng, công ty chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư, tổ chức quản lý tài sản, tổ chức hạ tầng thị trường, tổ chức công nghệ tài chính và tài sản số, cùng nhiều tổ chức hỗ trợ khác. Tuy nhiên, giá trị của khuôn khổ pháp lý chỉ được kiểm chứng khi những chủ thể này thực sự tham gia, thực sự giao dịch và tạo ra dịch vụ có giá trị cho nền kinh tế. Đây cũng là tinh thần được nhấn mạnh trong quá trình xây dựng chiến lược: IFC phải hướng mạnh tới những hoạt động đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế, thay vì chỉ dừng ở hình thức tổ chức và công bố chính sách.
+ Giai đoạn 2: 2028 - 2030 - Hình thành hệ sinh thái và thị trường lõi
Sau khi bộ khung thể chế và vận hành tối thiểu đã được xác lập, trọng tâm của giai đoạn thứ hai phải chuyển sang hình thành hệ sinh thái tài chính có chiều sâu. Đây là giai đoạn mà thành phố Hồ Chí Minh cần củng cố vai trò là cực dịch vụ tài chính tổng hợp với các trụ cột như thị trường vốn, quản lý tài sản, bảo hiểm, hàng hóa, các nền tảng giao dịch chuyên biệt và logistics hỗ trợ; trong khi Đà Nẵng cần đẩy mạnh vai trò là cực đổi mới tài chính, nơi thử nghiệm và thương mại hóa những sản phẩm, mô hình và hạ tầng mới gắn với công nghệ số, tài sản số, thanh toán số và dịch vụ xuyên biên giới. Phân vai như vậy sẽ giúp hai địa điểm không triệt tiêu nhau mà cùng đóng góp vào một cấu trúc chung của IFC Việt Nam.
Giai đoạn này cũng cần ưu tiên phát triển các phân khúc thị trường có khả năng tạo thanh khoản và kết nối quốc tế. Theo đó, Việt Nam nên đặc biệt chú trọng năm nhóm ưu tiên: Hạ tầng pháp lý và giải quyết tranh chấp, thị trường vốn, công nghệ tài chính, tài chính bền vững và phát triển nhân lực. Đây là các phân khúc vừa có khả năng tạo giá trị cao, vừa có tác dụng “kéo” các định chế và đối tác chiến lược vào hệ sinh thái. Đồng thời, việc phát triển thị trường hàng hóa phái sinh và các sở giao dịch hàng hóa trong IFC cũng có thể trở thành một mắt xích quan trọng, bởi nó gắn trực tiếp tài chính với thương mại, logistics, sản xuất và quản trị rủi ro giá cả trong nền kinh tế thực.
Về phương diện quản trị, đây là giai đoạn cần tăng cường năng lực giám sát rủi ro, nhất là đối với dòng vốn xuyên biên giới, giao dịch ngoại hối, phòng chống rửa tiền và quản lý các nền tảng giao dịch mới. Các phân tích pháp lý quốc tế về IFC Việt Nam đều nhấn mạnh rằng khung thể chế hiện nay đã mở ra các cơ chế khá linh hoạt, nhưng sự linh hoạt đó chỉ phát huy tác dụng tích cực nếu đi kèm kỷ luật giám sát đủ mạnh. Do đó, phát triển hệ sinh thái tài chính trong giai đoạn 2028–2030 phải đồng thời là quá trình nâng cấp năng lực kiểm soát rủi ro của Nhà nước.
+ Giai đoạn 3: 2031 - 2035 - Nâng cấp vị thế khu vực
Từ sau năm 2030, mục tiêu không nên chỉ dừng ở việc duy trì hoạt động của một trung tâm mới nổi, mà phải chuyển sang nâng cấp vị thế của Việt Nam trong mạng lưới tài chính khu vực. Nhiều góp ý chính sách gần đây đều lưu ý rằng chiến lược phát triển IFC cần làm rõ các mốc 2030, 2035 và 2045, bởi đây không thể là một đề án ngắn hạn. Điều đó hàm ý rằng giai đoạn 2031 - 2035 phải là giai đoạn IFC của Việt Nam chuyển từ lợi thế dựa trên cơ chế đặc thù sang lợi thế dựa trên uy tín thể chế, chất lượng dịch vụ, mức độ kết nối và sức hút nhân lực.
Trong giai đoạn này, hợp tác quốc tế cần được nâng lên thành một trụ cột chiến lược. Việc Singapore bày tỏ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm vận hành IFC với Việt Nam, thúc đẩy kết nối tài chính giữa hai nước và trao đổi sâu về trọng tài quốc tế, phát triển kinh tế và đào tạo là tín hiệu tích cực cho thấy Việt Nam có thể rút ngắn thời gian học hỏi nếu biết thiết kế hợp tác đúng trọng tâm. Vấn đề không chỉ là học kinh nghiệm chung, mà là chọn đúng đối tác để giải các “nút thắt” về chuẩn pháp lý, trọng tài, nhân lực, công nghệ và liên thông thị trường.
Hình 2. Lộ trình phát triển của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Về các giải pháp phát triển VIFC, tập trung vào 06 trụ cột bao gồm pháp lý, kiến trúc quản trị, cơ chế giải quyết tranh chấp đạt chuẩn quốc tế; hạ tầng tài chính - số và hạ tầng thị trường; nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế có mục tiêu; kỷ luật giám sát gắn với an ninh tài chính quốc gia.
Trong đó:
Hoàn thiện khung pháp lý minh bạch, ổn định nhưng có khả năng thích ứng. Chính các nguồn chính sách hiện nay cho thấy, Chính phủ không xem bộ nghị định tháng 12/2025 là trạng thái cuối cùng, mà là nền tảng để triển khai, sau đó rà soát, sửa đổi và có thể phát triển thành một đạo luật hoặc bộ luật chuyên biệt cho VIFC khi mô hình đã vận hành ổn định. Cách tiếp cận này là phù hợp, bởi một IFC không thể được thiết kế hoàn chỉnh chỉ bằng suy luận trên giấy; song nó cũng đặt ra yêu cầu rất cao về tính nhất quán và khả năng dự báo trong từng bước điều chỉnh pháp lý.
- Kiến trúc quản trị thống nhất nhưng phân vai rõ ràng. Mô hình “một trung tâm, hai địa điểm” chỉ có thể thành công nếu có một cấp điều hành chiến lược đủ mạnh để thống nhất chuẩn vận hành, đồng thời có cơ chế đủ linh hoạt để hai địa điểm chủ động phát triển theo lợi thế riêng. Vai trò của Hội đồng điều hành vì vậy không chỉ mang tính biểu tượng mà phải thực sự là bộ phận điều phối chiến lược, xử lý chồng chéo và duy trì tính thống nhất thể chế của toàn bộ trung tâm.
- Thiết chế giải quyết tranh chấp đạt chuẩn quốc tế: Hạ tầng pháp lý và giải quyết tranh chấp phải được xem là ưu tiên số một đối với một IFC mới nổi, bởi không có an toàn pháp lý thì không có dòng vốn dài hạn, không có quản lý tài sản quy mô lớn và không có các giao dịch tài chính phức tạp. Với Việt Nam, việc đã thiết lập tòa án chuyên biệt và trung tâm trọng tài quốc tế là bước đi đúng; chặng khó hơn nằm ở năng lực thực thi.
- Phát triển hạ tầng tài chính - số và hạ tầng thị trường. Một IFC không chỉ là ưu đãi thuế hay khu làm việc cho định chế tài chính; IFC hấp dẫn phải là nơi các chủ thể có thể giao dịch, thanh toán, bù trừ, lưu trữ dữ liệu, xác thực danh tính, quản trị rủi ro và kết nối xuyên biên giới một cách an toàn và hiệu quả. Việc phát triển các sở giao dịch hàng hóa, nền tảng giao dịch mới, thị trường carbon, tài chính xanh và các cấu phần công nghệ đi kèm vì vậy không phải là phần phụ, mà là bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh của trung tâm.
- Phát triển nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế có mục tiêu. Việt Nam có thể xây dựng được hạ tầng vật chất trong thời gian ngắn, nhưng để hình thành một trung tâm tài chính có uy tín cần một lực lượng chuyên gia về tài chính, pháp lý, trọng tài, công nghệ, kiểm soát tuân thủ và quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế. Đây là lý do hợp tác với Singapore và các đối tác khác cần được đặt trong logic “chuyển giao năng lực”, không chỉ dừng ở trao đổi kinh nghiệm chung.
- Đảm bảo kỷ luật giám sát gắn với an ninh tài chính quốc gia. Một khung thể chế đặc thù, vượt trội và cạnh tranh quốc tế cao chỉ bền vững khi đồng thời bảo đảm đồng bộ, minh bạch, ổn định và tương thích với yêu cầu bảo vệ lợi ích công cộng, an toàn hệ thống và an ninh tài chính quốc gia. Nói cách khác, sức hấp dẫn của IFC phải được xây trên năng lực quản trị rủi ro, chứ không phải trên sự nới lỏng thiếu kiểm soát.
4. Kết luận
Lộ trình chiến lược kiến tạo VIFC phải được đặt trong tư duy phát triển thể chế dài hạn, chứ không phải tư duy dự án ngắn hạn. Mô hình một trung tâm, hai địa điểm, hai định vị chức năng bổ trợ: Thành phố Hồ Chí Minh là cực dịch vụ tài chính tổng hợp; Đà Nẵng là cực đổi mới tài chính và công nghệ là mô hình phù hợp nhất với các điều kiện của Việt Nam hiện nay. Trên nền mô hình đó, lộ trình khả thi nhất là đi qua ba giai đoạn: 2026 - 2027 xây nền thể chế và năng lực vận hành; 2028 - 2030 hình thành hệ sinh thái và thị trường lõi; 2031 - 2035 nâng cấp vị thế khu vực.
Thành công của lộ trình này không được quyết định chủ yếu bởi số lượng ưu đãi hay tốc độ công bố chính sách, mà bởi khả năng kiến tạo niềm tin thể chế. Khi pháp lý đủ minh bạch, quản trị đủ thống nhất, giải quyết tranh chấp đủ hiệu quả, hạ tầng đủ hiện đại, nhân lực đủ chất lượng và giám sát đủ chặt chẽ, IFC mới có thể trở thành kênh huy động nguồn lực đột phá và động lực nâng chất lượng tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Tài liệu tham khảo
Chính phủ (2025), Nghị định số 323, 324, 325, 326, 327, 328, 329, 330 của Chính phủ liên quan đến Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam.
Nguyệt Hà (2026), Chiến lược phát triển IFC TP. Hồ Chí Minh cần rõ ràng về tầm nhìn và sứ mệnh, Báo điện tử VnEconomy.
Nguyễn Hoàng (2026), Trung tâm tài chính quốc tế - Cú “hích” đối với nền kinh tế Việt Nam, Báo điện tử Chính phủ.
Quốc hội (2025), Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Tuệ Văn (2025), Nghị quyết của Quốc hội về IFC tại Việt Nam, Báo điện tử Chính phủ.
Allen & Gledhill (2025), Vietnam’s international financial centres take shape.
Invest Global (2025), The cornerstone for Vietnam’s IFC success.
PWC (2025), Action Plan on the Implementation of Vietnam’s Internation Financial Center
Wardle, M., & Mainelli, M. (2024), The Global Financial Centres Index 36. Z/Yen Group Ltd. & China Development Institute..
International Monetary Fund. (2022), Elements of effective policies for international financial center development. IMF Policy Paper.
(VNF) - Để thúc đẩy kênh phát hành trái phiếu ra công chúng, bà Lương Thúy Ngân, Giám đốc Ngân hàng Đầu tư, Chứng khoán Vietcombank khuyến nghị, nên có cơ chế phân loại doanh nghiệp thành 3 nhóm tương tự như “xếp hàng lên máy bay”.
(VNF) - Cục Thuế (Bộ Tài chính) đã có văn bản gửi các cơ quan thuế về việc tăng cường kiểm tra và quản lý thuế đối với các doanh nghiệp thua lỗ nhiều năm, lãi mỏng.
(VNF) - Cổ phiếu chứng khoán bất ngờ "nổi sóng" giữa "chợ chiều", trong bối cảnh thị trường "nín thở" chờ kết quả rà soát giữa kỳ của FTSE Russell – dấu mốc quan trọng trong tiến trình nâng hạng thị trường chứng khoán.
(VNF) - Kỳ vọng nâng hạng thị trường đang mở ra khả năng thu hút dòng vốn ngoại trong trung và dài hạn. Tuy nhiên, diễn biến ngắn hạn lại kém tích cực khi VN-Index giảm hơn 6% từ đầu năm, phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước các yếu tố vĩ mô. Trong bối cảnh đó, hiệu suất các quỹ mở phần nào cho thấy cách dòng tiền đang dịch chuyển và lựa chọn cơ hội trên thị trường.
(VNF) - Ông Nguyễn Hồ Ngọc - Giám đốc Đào tạo ATC Academy lưu ý rằng, chi tiền mặt trong doanh nghiệp là vấn đề “nhạy cảm”, doanh nghiệp cần hiểu được bản chất của tiền mặt trong mối quan hệ với thuế để tránh rủi ro.
(VNF) - Sau khi tăng vốn điều lệ lên 23.000 tỷ đồng, Saigon Glory báo lãi hơn 1.510 tỷ đồng trong năm 2025, lỗ luỹ kế được thu hẹp còn gần 17.935 tỷ đồng.
(VNF) - Lideco xác định không có doanh thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản trong năm 2026, mặt khác doanh nghiệp quyết định nâng hạn mức đầu tư chứng khoán lên 650 tỳ đồng sau khi bước đầu ghi nhận kết quả khả quan.
(VNF) - Các trung tâm tài chính quốc tế thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài mạnh nhờ thanh khoản thị trường cao, hệ thống pháp lý minh bạch, khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế.
(VNF) - Trong bối cảnh lạm phát trở lại theo hướng chi phí đẩy, mặt bằng lãi suất gia tăng và dòng vốn ngoại rút ròng kéo dài, Chứng khoán SHS cho rằng VN-Index nhiều khả năng tiếp tục vận động tích lũy trong vùng 1.600-1.750 điểm, với trạng thái phân hóa cao và cơ hội hạn chế.
(VNF) - Nhà chức trách cho biết, ông chủ của Bảo Tín Minh Châu đã chỉ đạo bộ phận kế toán sử dụng 2 hệ thống phần mềm để quản lý và kê khai thuế, tức “2 sổ kế toán” nhằm để ngoài sổ sách doanh thu gần 10.000 tỷ.
(VNF) - Trong tiến trình xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC), các yếu tố như cơ chế đặc thù, khung pháp lý hay hạ tầng thị trường thường được coi là điều kiện tiên quyết. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ các trung tâm tài chính hàng đầu cho thấy một thực tế rõ ràng: lợi thế cạnh tranh bền vững không chỉ nằm ở thể chế, mà còn nằm ở chất lượng nguồn nhân lực.
(VNF) - Cùng với việc giá vàng tăng phi mã, khoản vay vàng của Công ty Kinh doanh Thủy hải sản Sài Gòn (APT) đã "phình to" từ 103 tỷ đồng lên hơn 891 tỷ đồng sau 16 năm.
(VNF) - Quỹ ngoại đến từ Phần Lan PYN Elite Fund vừa có động thái gia tăng đáng kể tỷ trọng sở hữu tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (HNX: SHS).
(VNF) - Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế (TTTCQT) tại Việt Nam là một quá trình cải cách thể chế và nâng cấp hạ tầng thị trường trong dài hạn, chứ không đơn thuần là một dự án thu hút đầu tư.
(VNF) - Công ty Hồng Phong 1 và Hồng Phong 2 thuộc hệ sinh thái WTO đều ghi nhận kết quả kinh doanh kém khả quan năm 2025, đồng thời bị phạt do vi phạm về công bố thông tin liên quan đến trái phiếu doanh nghiệp.
(VNF) - Theo công bố kết quả hoạt động kinh doanh năm 2025, loạt doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực điện gió, điện mặt trời lỗ nặng như: CTCCP Năng lượng Hồng Phong 2, CTCP Năng lượng Hồng Phong 1, Công ty TNHH Điện gió Hòa Đông 2,….
(VNF) - Nếu bị phát hiện vi phạm, cá nhân và doanh nghiệp có thể bị xử phạt với nhiều mức khác nhau về hành chính, hình sự và truy thu số tiền trốn thuế.
(VNF) - Theo Cục Thuế, qua rà soát cơ sở dữ liệu phát hiện thấy dấu hiệu bất thường của một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao trong quản lý thuế đối với hoạt động này.
(VNF) - Hai ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là thuỷ sản và dệt may đang bước vào năm 2026 trong bối cảnh kém thuận lợi, khi nhu cầu tiêu dùng toàn cầu suy yếu, rủi ro thuế quan gia tăng và áp lực chi phí đầu vào chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Theo báo cáo mới đây của SSI Research, tăng trưởng xuất khẩu của hai ngành này trong năm 2026 nhiều khả năng chỉ ở mức một chữ số.
(VNF) - Để thúc đẩy kênh phát hành trái phiếu ra công chúng, bà Lương Thúy Ngân, Giám đốc Ngân hàng Đầu tư, Chứng khoán Vietcombank khuyến nghị, nên có cơ chế phân loại doanh nghiệp thành 3 nhóm tương tự như “xếp hàng lên máy bay”.
(VNF) - Tuyến đường Vành đai 3,5 đoạn từ Quốc lộ 32 đến Đại lộ Thăng Long đang dần thể hiện vai trò như một trục "xương sống" của không gian phát triển đô thị phía Tây Hà Nội.