Tiêu điểm

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lâm cảnh bĩ cực, 'siêu Ủy ban' muốn Bộ KHĐT xem xét chỉ định thầu

(VNF) - 19 tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang đối diện với những khó khăn rất lớn do đại dịch Covid-19. Trong bối cảnh đó, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (siêu Ủy ban) đã đề xuất nhiều giải pháp xử lí, đáng chú ý là đề xuất Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ định thầu các dự án cấp bách sử dụng vốn nhà nước.

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lâm cảnh bĩ cực, 'siêu Ủy ban' muốn Bộ KHĐT xem xét chỉ định thầu

Như Vietnam Finance đã thông tin, mới đây Uỷ ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã có báo cáo cập nhật khó khăn của 19 tập đoàn, tổng công ty nhà nước do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.

Trong các đơn vị trên, Vietnam Airlines và PVN là những đơn vị chịu tác động hết sức nặng nề.

Xem thêmVietnam Airlines gặp khó vì dịch Covid 19: Quý I lỗ 2.300 tỷ, cạn tiền dự trữ

Bi kịch của PVN: Sản lượng tăng, giá bán xuống, doanh thu quý I giảm hơn 13.000 tỷ

Dù vậy, bức tranh của 17 tập đoàn, tổng công ty nhà nước còn lại cũng không có nhiều gam màu sáng. Khó khăn là mẫu số chung cho cả 19 tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Cụ thể, với Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV), báo cáo cho biết tổng doanh thu quý I của ACV ước đạt 4.064 tỷ đồng, giảm 832 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2019; lợi nhuận ước đạt 1.857 tỷ đồng, giảm 586 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước.

Dự kiến cả năm 2019, doanh thu của ACV đạt 11.339 tỷ đồng, giảm 10.230 tỷ đồng so với kế hoạch năm 2020; lợi nhuận đạt 1.476 tỷ đồng, giảm 9.335 tỷ đồng so với kế hoạch năm.

ACV dự kiến 2 kịch bản. Một là thị trường quốc tế từ tháng 5/2020 phục hồi dần một số đường bay Trung Quốc; đường bay châu Âu, Hàn Quốc tạm dừng đến hết tháng 7/2020; các đường bay khác dự kiến từ tháng 8/2020 sẽ phục hồi dần nhưng chậm.

Kịch bản 2 là từ cuối tháng 3/2020 đến tháng 5/2020 sản lượng trong nước tiếp tục giảm mạnh từ 60 – 70% và bắt đầu phục hồi từ tháng 6/2020. Tuy nhiên do ảnh hưởng lịch học điều chỉnh nên khả năng sản lượng tăng đột biến trong đợt cao điểm hè như mọi năm sẽ không kỳ vọng.

Đối với Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc (VEC), việc hạn chế đi lại của người trong mùa dịch khiến lưu lượng xe lưu thông trên đường bộ từ đầu năm 2020 giảm mạnh, nhất là tại các tuyến Nội Bài – Lào Cai, Cầu Giẽ - Ninh Bình, TP. HCM – Long Thành – Dầu Giây, Đà Nẵng – Quảng Ngãi.

Trong quý I/2020, doanh thu của VEC giảm 15 tỷ đồng. Dự kiến nếu dịch kéo dài đến quý IV/2020, doanh thu cả năm của VEC ước đạt 3.698 tỷ đồng, giảm 522,7 tỷ đồng so với kế hoạch năm; ước lỗ 140 tỷ đồng.

Tổng công ty đường sắt Việt Nam (VNR) cũng bị ảnh hưởng nặng. Do không có khách đi tàu, từ đầu năm đến nay, các công ty cổ phần vận tải đường sắt đã đề nghị dừng chạy hàng loạt đoàn tàu trong nước và tàu liên vận quốc tế. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến doanh thu và lợi nhuận của ngành đường sắt, khó đảm bảo hoàn thành kế hoạch được giao.

Trong quý I/2020, doanh thu vận tải hành khách của VNR dự kiến đạt 527,8 tỷ đồng, giảm 65 tỷ đồng so với cùng kỳ nâm trước; ước lỗ 100 tỷ đồng.

Dự kiến cả năm 2020, công ty mẹ - VNR có doanh thu giảm từ 700 - 100 tỷ đồng so với kế hoạch năm, lỗ từ 694 – 935 tỷ đồng tùy theo thời điểm kết thúc dịch.

Tổng công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) cũng không khá hơn. Hoạt động vận tải biển của tổng công ty này bị ngừng trệ do nhu cầu vận chuyển hàng hóa sụt giảm mạnh, đặc biệt là thị trường Trung Quốc và gần đây là thị trường châu Âu, Mỹ.

Trong khi đó, chi phí nhiên liệu tăng mạnh, hệ thống các cảng của Vinnalines đều bị ảnh hưởng do các tài hủy lịch không đến cảng hoặc hủy chuyến, neo chờ đến 10 ngày. Các hoạt động vận tải, kho bãi cũng giảm sản lượng tới 40% so với cùng kỳ.

Hầu hết đội tàu của Vinalines không đủ việc làm dẫn tới không có dòng tiền trả nợ và chi phí duy trì đội tài. Hoạt động tạm nhập tái xuất và hoạt động của các cảng đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là chi phí lưu kho tăng cao.

Doanh thu hợp nhất 3 tháng đầu năm 2020 của Vinalines ước đạt 2.218 tỷ đồng, giảm 626 tỷ đồng; doanh thu công ty mẹ ước đạt 281 tỷ đồng, giảm 87 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước.

Tổng công ty ước lỗ hợp nhất 113 tỷ đồng, ước lỗ công ty mẹ 94 tỷ đồng.

Nếu dịch kéo dài đến quý IV/2020, doanh thu công ty mẹ ước đạt 1.269 tỷ đồng, giảm 279 tỷ đồng so với kế hoạch năm 2020; ước lỗ 76 tỷ đồng.

Đối với Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), quý I/2020, doanh thu của tập đoàn ước đạt 28.449 tỷ đồng, giảm 1.706 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2019; ước lỗ 572 tỷ đồng.

Dự kiến cả năm 2020, doanh thu của Petrolimex sẽ giảm 12.517 tỷ đồng; ước lỗ 1.143 tỷ đồng so với kế hoạch năm. Số tiền nộp ngân sách dự kiến giảm tương ứng khoảng 500 tỷ đồng so với kế hoạch năm, nếu dịch kéo dài tới quý IV/2020.

Theo Petrolimex, nguyên nhân của tình trạng này là do giá xăng dầu thế giới giảm quá nhanh với biên độ lớn trong quý I/2020, dẫn đến giá vốn tồn kho của tập đoàn tăng mạnh.

Đối với Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam (VRG), quý I/2020, doanh thu của tập đoàn ước đạt 2.500 tỷ đồng, giảm 1.200 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước; lợi nhuận trước thuế ước tính 270 tỷ đồng, giảm 44 tỷ đồng so với cùng kỳ 2020.

Covid-19 đã tác động toàn diện tới các ngành hàng của tập đoàn khiến tổng hợp doanh thu cả năm dự kiến giảm 2.200 tỷ đồng, lợi nhuận giảm 1.800 tỷ đồng so với kế hoạch.

Đối với Tổng công ty cà phê Việt Nam (Vinacafe), quý I/2020, công ty mẹ ước lỗ 15 tỷ đồng, hợp nhất tổng công ty ước lỗ 25 tỷ đồng.

Vinacafe đang chịu tác động rất lớn do thị trường bị ảnh hưởng bởi Covid-19 như: tiêu thụ rất chậm, giá bán thấp hơn giá thành, giá xuất khẩu xuống đáy 1.115 USD/tấn – mức thấp nhất trong vòng 15 năm qua.

Tại thị trường trong nước, giá bán nội địa luôn cao hơn giá bán xuất khẩu làm tăng giá thành đầu vào. Nếu tình hình này kéo dài, năm 2020, Vinacafe sẽ khó hoàn thành kế hoạch được giao, sản xuất kinh doanh có nguy cơ thua lỗ trong 3 năm liên tiếp.

Đối với Tập đoàn hóa chất Việt Nam (Vinachem), quý I/2020, tổng doanh thu ước đạt 9.757 tỷ đồng, giảm 649 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2019; ước lỗ 187 tỷ đồng.

Dự kiến cả năm 2020, doanh thu của tập đoàn là 27.697 tỷ đồng, giảm khoảng 10.000 tỷ đồng, ước lỗ 4.379 tỷ đồng, nộp ngân sách dự kiến giảm 600 tỷ đồng so với kế hoạch năm.

Dịch bệnh khiến Vinachem ảnh hưởng về nguồn cung nguyên vật liệu, do các nguyên vật liệu sản xuất chính chủ yếu được nhập khẩu. Nếu dịch kéo dài, tập đoàn đối diện với nguy cơ dừng sản xuất do không có nguyên vật liệu.

Đối với Tổng công ty thuốc lá Việt Nam (Vinataba), quý I/2020, tổng doanh thu ước đạt 4.728 tỷ đồng, giảm 692 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2019; tổng lợi nhuận trước thuế ước đạt 247 tỷ đồng, giảm 71 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2019.

Dự kiến cả năm 2020, doanh thu Vinataba sẽ giảm 5.996 tỷ đồng, lợi nhuận giảm 496 tỷ đồng so với kế hoạch năm 2020, nộp ngân sách dự kiến giảm 1.926 tỷ đồng so với kế hoạch năm 2020.

Theo Vinataba, thị trường nội địa suy giảm mạnh do các lễ hội bị dừng; thị trường quốc tế cũng khó khăn do hạn chế giao thương tại biên giới Việt – Trung; nguồn cung nguyên liệu từ Trung Quốc rất khan hiếm.

Đối với Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam (Vinafor), doanh thu quý I/2020 giảm 143 tỷ đồng so với cùng kỳ, lợi nhuận giảm 114 tỷ đồng với cùng kỳ năm trước. Dự kiến cả năm, doanh thu của Vinafor giảm 1.159 tỷ đồng, lợi nhuận giảm 243 tỷ đồng so với kế hoạch năm.

Sản lượng và giá xuất nhập khẩu một số sản phẩm từ nguyên liệu gỗ và nguyên liệu đầu vào của Vinafor có dấu hiệu suy giảm. Việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Trung Quốc bị tạm dừng. Một số đơn hàng nhập khẩu thông qua đối tác vận chuyển của Trung Quốc bị kéo dài và phát sinh chi phí, ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh gỗ nguyên liệu nhập khẩu của Vinafor và ảnh hưởng kế hoạch sản xuất năm 2020.

Đối với Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), đại dịch Covid-19 khiến sản lượng điện cho công nghiệp và cho kinh doanh dịch vụ giảm làm doanh thu bán điện giảm tương ứng.

Vấn đề bảo đảm than cho sản xuất điện trong thời gian tới, nếu dịch bệnh kéo dài, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Theo EVN, các dự án nguồn phát điện, dự án truyền tải và phân phối điện của tập đoàn này có liên quan đén chuyên gia và thiết bị của Trung Quốc, Hàn Quóc, Đài Loan. Vì vậy, nếu dịch bệnh kéo dài, các chuyên gia không thể sang Việt Nam, thiếu bị cung ứng chậm, tiến độ các dự án bị sẽ ảnh hưởng.

Đối với Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (TKV), thị trường tiêu thụ than hiện bị chững lại do Trung Quốc là thị trường lớn, giá than nhập khẩu có xu hướng tăng trong khi giá khoáng sản giảm khiến doanh thu về khoáng sản giảm 1.000 tỷ đồng.

TKV dự tính nếu dịch kéo dài, nguồn cung nguyên vật liệu cho các đơn vị sẽ nguy cấp do lượng dự trữ chỉ đến hết quý I hoặc đầu quý II. Ngoài ra, việc lao động Trung Quốc bị kéo dài thời gian sang Việt Nam cũng dẫn đến các dự án chậm tiến độ.

Đối với Tập đoàn bưu chính viễn thông (VNPT) và Tổng công ty viễn thông Mobifone, dịch bệnh tác động tới 2 đơn vị này chủ yếu ở khía cạnh nguồn cung thiếu bị khó khăn do các nhà máy, đơn vị cung ứng vật tư, nguyên liệu sản xuất linh kiện điện tử chủ yếu như Ericson, Nokia, Huawei, ZTE… đều đặt tại các nước chịu ảnh hưởng nặng của dịch như Hàn Quốc, Nhật, Mỹ, Ý, Trung Quốc.

Diễn biến dịch phức tạp dẫn tới việc hạn chế tụ tập đông người, đóng cửa cơ sở kinh doanh làm VNPT và Mobifone thiệt hại đáng kể. Cả năm 2020, VNPT dự kiến giảm 6.161 tỷ đồng doanh thu, 817 tỷ đồng loại nhuận; Mobifone dự kiến giảm 6.684 tỷ đồng doanh thu và 1.526 tỷ đồng lợi nhuận so với kế hoạch năm.

Tổng công ty lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và Tổng công ty lương thực miền Nam (Vinafood 2) là hai đơn vị hiếm hoi chưa chịu ảnh hưởng nhiều bởi dịch, tuy nhiên hoạt động kinh doanh của 2 đơn vị sẽ chịu tác động của chính sách về xuất khẩu gạo.

Theo kịch bản kết thúc dịch Covid-19, Vinafood 1 dự kiến doanh thu cả năm 2020 giảm từ 2.081 – 6.084 tỷ đồng; lợi nhuận giảm từ 91 – 110 tỷ đồng so với kế hoạch.

Trong khi đó, Vinafood 2 tiếp tục khó khăn trong kinh doanh khi kết quả kinh doanh quý I là số lỗ 97 tỷ đồng.

Về phía Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), quý I/2020, trong 145 doanh nghiệp thuộc danh mục quản lí của SCIC, có 81 doanh nghiệp chịu tác động tiêu cực từ dịch bệnh, trong đó có 35 doanh nghiệp chịu tác động nặng nề.

Tập doàn dệt may Việt Nam (Vinatex0 là đơn vị chịu thiệt hại nặng nhất do số lao động lớn và không kí được các hợp đồng mới, ách tắc trong xuất khẩu các đơn hàng cũ.

Siêu Ủy ban muốn Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ định thầu

Để giải quyết khó khăn, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã đề nghị nghị hàng loạt giải pháp.

Cụ thể, Ủy ban đề nghị Bộ Công Thương tạo điều kiện thuận lợi về nguyên liệu đầu vào cho sản xuất khẩu trang vải kháng khuẩn (Vinatex), dung dịch sát khuẩn (Vinachem), các trang thiết bị y tế (các doanh nghiệp dược phẩm của SCIC); trong trường hợp đáp ứng đủ nhu cầu trong nước thì cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu; có chỉ đạo và cho phép Vinafood 1 và Vinafood 2 được xuất khẩu gạo với sản lượng phù hợp.

Ủy ban cũng đề nghị Bộ Giao thông vận tải xử lí dứt điểm những vướng mắc trong đầu tư, lắp đặt hệ thống thu phí ETC để đảy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng hệ thống trạm thu phí điện tử tự động không dừng, giảm thiểu việc sử duunjg tiền mặt tại các trạm thu phí, hạn chế nguy cơ lây lan bệnh.

Ủy ban đề nghị Bộ Tài chính, Bộ Công Thương xem xét phương án giảm thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng phân bón, xăng dầu sản xuất trong nước để Vinachem, PVN có thể xuất khẩu các sản phẩm này; xem xét miễn thuế nhập khẩu, thuế môi trường cho các sản phẩm xăng dầu trong năm 2020 cho các doanh nghiệp vận tải như Vietnam Airlines, Vinalines, VNR.

Ủy ban đề nghị Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước xem xét khoanh nợ gốc, kéo dài thời hạn vay của các hợp đồng tín dụng, không tính lãi phạt trên lãi và gốc trả chậm trong thời gian dịch, được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và không chuyển nhóm nợ, tiếp tục cho doanh nghiệp vay vốn lưu động và duy trì hạn mức vay vốn lưu động để đảm bảo sản xuất kinh doanh cho các đơn vị: Vinachem, VNR, Vietnam Airlines, VNPT, PVN…

Đáng chú ý, Uỷ ban đề nghị Ngân hàng Nhà nước sớm có hướng dẫn trình tự, thủ tục khơi thông nguồn vốn, để các tập đoàn, tổng công ty sớm tiếp cận được gói hỗ trợ tín dụng 250.000 tỷ đồng, thời hạn cho vay tối thiểu 3 năm, lãi suất 0% phục vụ nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, thanh toán lương cho người lao động. Trong đó, Vietnam Airlines đang rất khó khăn và đề nghị được hỗ trợ khoảng 12.000 tỷ đồng, bắt đầu từ tháng 4/2020 để duy trì hoạt động, bảo đảm thanh khoản cho doanh nghiệp.

Ủy ban cũng đề nghị Bộ Tài chính tiếp tục giảm 50% mức phải trích khấu hao tài sản cố định hàng năm đối với một số dự án yếu kém ngành công thương; hỗ trợ Vietnam Airlines làm việc với ECAs, US Exim, các ngân hàng cho vay về giải pháp giãn, hoãn thanh toán các khoản vay có bảo lãnh của Bộ; cho phép Vietnam Airlines không tính chi phí khấu hạo đối với tàu bay sở hữu và thuê tài chính trong thời gian dừng bay, điều chỉnh tăng thời gian khấu hao lên tương ứng; không thực hiện phân bổ các chi phí chờ phân bổ gắn với đội bay trong thời gian tàu bay dừng khai thác.

Ủy ban cũng đề nghị Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu chính sách bảo hộ với Vietnam Airlines trong vấn đề phân bổ slot; cho phép ACV được tận dụng thời điểm thấp điểm về chuyến bay để sửa chữa nâng cấp sân bay; phối hợp Bộ Tài chính xem xét giảm mức phí sử dụng kết cấu hạ tầng đối với VNR, phí cất/hạ cánh, điều hành bay đối với hoạt động bay của Vietnam Airlines…

Đặc biệt, Ủy ban đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư sớm hướng dẫn cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các dự án cấp bách sử dụng vốn nhà nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước (theo phương án chỉ định thầu với điều kiện giảm 5% giá trị dự toán xây dựng) để đảy nhanh tiến độ đầu tư, giảm ách tắc nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp đã chuẩn bị, nhất là các dự án ngành điện, hạ tầng hàng không như Thủy điện Hòa Bình mở rộng, Yaly mở rộng, điện khí Ô Môn, đường dây tải điện Vân Phong – Vĩnh Tân, dự án sửa chữa nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất, Nội Bài…

Tin mới lên