Chuyển đổi xanh: Chậm chân lỡ cơ hội nhưng nhanh quá khó bán hàng

Kỳ Thư - Thứ bảy, 05/10/2024 18:19 (GMT+7)

(VNF) - Ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam, cho rằng trong quá trình chuyển đổi xanh, doanh nghiệp nếu đi chậm có thể chạy gắng lên một chút nhưng đi nhanh quá chắc chắn thua, bởi sản phẩm xanh đắt đỏ và khó bán.

-Là doanh nghiệp đầu ngành, quá trình chuyển đổi xanh tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam đang đi đến đâu, thưa ông?

Ông Lê Tiến Trường: Là một doanh nghiệp dệt may, chúng tôi xuất khẩu hơn 90% sản phẩm. Để xuất khẩu thành công, chúng tôi cần tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường và sản xuất bền vững mà các thị trường lớn như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản đặt ra. Nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn này, sản phẩm của chúng tôi sẽ khó có thể nhập khẩu vào những thị trường này.

Tuy nhiên, trong 4 năm vừa qua, do sự suy giảm của kinh tế thế giới, nhu cầu về sản xuất xanh không được đẩy mạnh như dự kiến, chỉ dừng lại ở mức khuyến khích, vận động người tiêu dùng hướng tới các sản phẩm xanh.

Ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam.

Thực tế, chúng tôi đang tập trung vào các khâu vừa sản xuất xanh, vừa mang tính chất tiết kiệm nguồn lực như tiết kiệm nước, tiết kiệm điện, sử dụng năng lượng tái tạo, nguyên vật liệu có khả năng tái chế, qua đó làm giảm giá thành sản phẩm dệt may và tăng tính cạnh tranh của Việt Nam trong điều kiện thị trường khó khăn. Cụ thể, trong năm 2023, trung bình điện năng trên một sản phẩm dệt may giảm khoảng 2%. Tập đoàn Dệt May Việt Nam cũng sử dụng trên 17 MW điện tái tạo, điện năng lượng áp mái. Một thành tựu quan trọng nữa là 84% rác thải của Tập đoàn đã được chuyển từ rác thải nguy hại sang rác thải thông thường.

Bên cạnh việc áp dụng kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, chúng tôi còn áp dụng ESG trong quản trị môi trường, trách nhiệm xã hội, tăng cường tính tự động hóa để giảm sự vất vả của người lao động trong quá trình sản xuất các sản phẩm dệt may.

-Việc ứng dụng ESG giúp doanh nghiệp giảm chi phí như thế nào, thưa ông? Trong quá trình ứng dụng ESG, ông nhận thấy những vướng mắc gì?

Về quản trị môi trường, nếu có những phương thức sản xuất tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nguồn nước thì đương nhiên giá thành sẽ thấp, đấy là lý do vì sao mỗi sản phẩm dệt may giảm được khoảng 2% chi phí điện và Tập đoàn Dệt may Việt Nam cũng giảm được 84% rác thải từ nguy hại sang không nguy hại.

Về trách nhiệm xã hội, khi áp dụng tự động hóa làm giảm sự vất vả cho người lao động, chúng ta sẽ giữ chân được lao động, không phải đối diện với tình trạng thay đổi lượng nhân lực vốn là bài toán đau đầu của các doanh nghiệp dệt may, từ đó ổn định được sản xuất.

Về quản trị doanh nghiệp, đây là khâu giúp tiết kiệm giá thành nhất trong tất cả các khâu. Cụ thể, từ việc quản trị bằng số liệu trên giấy hay máy tính đơn lẻ chuyển sang quản trị số giúp giảm bớt đi những khâu trung gian, giảm bớt những nhân lực chỉ làm số liệu. Đồng thời, số liệu cũng được chuyển sang thời gian thực thay vì hàng ngày hàng tuần, từ đó giúp người quản lý có thể đưa ra quyết định nhanh nhất, kịp thời nhất.

Trước đây, khi biên lợi nhuận của ngành dệt may chỉ xấp xỉ 10% và giá giảm 20% thì thua lỗ là điều không tránh khỏi. Dù lợi nhuận của Tập đoàn Dệt may Việt Nam năm 2023 chỉ bằng 40% so với năm 2022, nhưng nếu không nhờ những nỗ lực tổng hợp cả về quản trị môi trường, trách nhiệm xã hội và đặc biệt quản trị công ty thì không thể đạt được con số đó trong bối cảnh khó khăn như vậy.

Việc thực hành ESG cũng còn nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may.

Tuy nhiên, việc thực hành ESG cũng còn nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may.

Đầu tiên, hành lang pháp lý trong nước về ESG còn hạn chế. Chưa có chính sách, quy định cụ thể cho ngành dệt may về kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh hay ESG. Các quy định về kiểm kê khí nhà kính, thuế carbon... vẫn chậm hơn lộ trình áp dụng quốc tế.

Bên cạnh đó, hệ thống tài chính cho phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, tài chính ESG còn non trẻ, khiến các dự án dệt may xanh, bền vững gặp nhiều khó khăn trong huy động tài chính. Đồng thời, thiếu các chính sách ưu đãi cụ thể để khuyến khích phát triển dệt may tuần hoàn, bền vững (chính sách quy hoạch và phát triển khu công nghiệp xanh cho ngành sợi).

Về nguồn lực và công nghệ, đầu tư cho ESG và kinh tế tuần hoàn là dài hạn, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn về tài chính. Nguồn lực con người để triển khai, ứng dụng công nghệ và thực hành các tiêu chuẩn ESG, kinh tế tuần hoàn cũng là một thách thức.

Ngoài ra, văn hóa doanh nghiệp – vấn đề tưởng chừng như không liên quan nhưng lại rất liên quan - và thói quen tổ chức hoạt động trong hệ thống sản xuất tuyến tính sẽ cản trở quá trình chuyển đổi.

Trên khía cạnh thị trường, đến nay, 95% sản phẩm dệt may trên thế giới vẫn là truyền thống. Mặc dù ý thức tiêu dùng sản phẩm tuần hoàn, bền vững ngày càng cao nhưng giá cả vẫn sẽ là rào cản chính đối với người tiêu dùng, do đó, thị trường cho các sản phẩm tuần hoàn, bền vững vẫn đang chỉ là thị trường ngách. Trên thực tế, những hạn chế về nguồn cung nguyên liệu xanh, bền vững phục vụ sản xuất khiến các sản phẩm xanh nhìn chung có giá cao hơn 30% so với sản phẩm sử dụng nguyên liệu thông thường. Các loại xơ hóa học tổng hợp hiện đang chiếm tới 65% tổng sản lượng toàn cầu. Xơ thực vật (bao gồm bông) chỉ chiếm 27%.

Cuối cùng, về dữ liệu ESG, vẫn thiếu sự chuẩn hóa, đặc biệt là về môi trường và xã hội, do đó, việc phát hành báo cáo ESG để phục vụ cho các thị trường quốc tế gặp nhiều khó khăn.

-Vậy ở góc độ doanh nghiệp, ông có kiến nghị như thế nào để ngành dệt may có thể nhanh chóng đáp ứng được các tiêu chuẩn ESG?

Đầu tiên, cần phải xây dựng các tiêu chuẩn ESG và kinh tế tuần hoàn cho ngành dệt may với lộ trình phát triển và mục tiêu cụ thể, phù hợp với xu hướng toàn cầu. Đồng thời, cũng cần có chính sách hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp thông qua các công cụ như thuế, tín dụng, và đất đai. Chính sách này cần có bước đi cụ thể và hợp lý; nếu ban hành quá sớm so với thế giới, doanh nghiệp sẽ mất lợi thế cạnh tranh vì phải chịu chi phí cao để đảm bảo sản xuất theo tiêu chuẩn xanh và tuần hoàn tại Việt Nam.

Thực tế hiện nay chưa có doanh nghiệp nào bắt buộc điều chỉnh và báo cáo theo quy định của ESG và kinh tế tuần hoàn. Điều này là một rủi ro lớn, bởi vì mặc dù các khuyến nghị của EU về kinh tế tuần hoàn và tiêu chuẩn xanh có hiệu lực, nhưng khi kinh tế và nhu cầu suy thoái, thời gian hiệu lực sẽ được điều chỉnh lại. Nếu Việt Nam đi nhanh hơn một chút, chúng ta có thể tránh được những khó khăn trên thị trường mục tiêu, nhưng sản phẩm xanh có thể sẽ đắt đỏ và khó bán. Ngược lại, nếu đi chậm, chúng ta có thể không vào được thị trường mục tiêu.

Tóm lại, trong quá trình thực thi ESG, doanh nghiệp đi chậm có thể chạy gắng lên một chút nhưng đi nhanh quá chắc chắn thua. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động đi trước một bước so với chính sách trong nước. Trong trường hợp cần thiết, doanh nghiệp phải tự nâng cao tiêu chuẩn của mình để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Khi đó, chính phủ mới điều chỉnh chính sách theo sau để phù hợp với tình hình thực tế.

Song song với đó, để thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh, cần thực hiện các nghiên cứu dẫn dắt và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp. Cần tăng cường hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) để doanh nghiệp có thể làm chủ công nghệ và tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ các đối tác. Đồng thời, cần khuyến khích phát triển các công cụ tài chính xanh và các mô hình hợp tác liên doanh nhằm tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô và đa dạng hóa rủi ro.

Ngoài ra, cần xác định khoảng cách về kỹ năng trong doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với quy hoạch nguồn nhân lực cấp quốc gia, phục vụ cho quá trình chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh. Cũng cần thiết lập mạng lưới liên ngành và liên doanh nghiệp để chia sẻ kiến thức và nguồn nhân lực.

-Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

'Cổ phiếu dệt may, hóa chất, dầu khí sẽ dẫn dắt TTCK'

'Cổ phiếu dệt may, hóa chất, dầu khí sẽ dẫn dắt TTCK'

Tài chính  - 7h
(VNF) - Theo chuyên gia, những nhóm ngành như dệt may, hóa chất, hay dầu khí cũng có thể đóng vai trò dẫn dắt mới, với kỳ vọng lợi nhuận tiếp tục tăng trưởng hoặc phục hồi từ vùng đáy.
Kiếm chưa nổi 2 triệu/ngày từ dệt may, Garmex Sài Gòn lấn sang BĐS, dược và logistics

Kiếm chưa nổi 2 triệu/ngày từ dệt may, Garmex Sài Gòn lấn sang BĐS, dược và logistics

(VNF) - Garmex Sài Gòn - công ty may lớn tại TP. HCM ghi nhận doanh thu chỉ 358 triệu đồng nửa đầu năm, tương đương dưới 2 triệu đồng mỗi ngày.

Đối thủ Bangladesh bất ổn, dệt may Việt Nam đón cơ hội vàng

Đối thủ Bangladesh bất ổn, dệt may Việt Nam đón cơ hội vàng

(VNF) - Ngành dệt may Việt Nam đang chứng kiến những dấu hiệu khởi sắc nhờ kết quả kinh doanh ấn tượng trong quý II và những lợi thế từ yếu tố bên ngoài. Đặc biệt, sự gián đoạn trong ngành may mặc Bangladesh đã mở ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Dệt may Hoà Thọ: Nợ tăng cao và tồn kho nhiều lên

Dệt may Hoà Thọ: Nợ tăng cao và tồn kho nhiều lên

(VNF) - Theo báo cáo tài chính quý II/2024, Tổng công ty cổ phần Dệt may Hoà Thọ có doanh thu đạt 1.014 tỷ đồng, tăng nhẹ 52 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước. Qua đó, lợi nhuận gộp thu về 141 tỷ đồng.

Ý kiến ( )
Malaysia: Không tăng giá điện với người nghèo, hoàn tiền lắp điện mặt trời 50.000 hộ dân

Malaysia: Không tăng giá điện với người nghèo, hoàn tiền lắp điện mặt trời 50.000 hộ dân

(VNF) - Chính phủ Malaysia vừa tung gói hỗ trợ mới cho các hộ gia đình lắp điện mặt trời mái nhà, với mức hỗ trợ tối đa 3.000 RM (gần 20 triệu đồng/hộ), trong nỗ lực thúc đẩy chuyển đổi năng lượng và giảm áp lực chi phí điện trước biến động nguồn cung toàn cầu.

Nâng chuẩn xanh: Cơ hội dài hạn và áp lực vốn đầu tư trước mắt

Nâng chuẩn xanh: Cơ hội dài hạn và áp lực vốn đầu tư trước mắt

(VNF) - Trước áp lực ngày càng lớn từ các tiêu chuẩn xanh toàn cầu, doanh nghiệp Việt đang bước vào cuộc đua chuyển đổi xanh để giữ thị trường, duy trì chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh. Chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều kiện sống còn trong bối cảnh mới.

Một đồng vốn và lời giải cho 2 bài toán sinh kế và môi trường

Một đồng vốn và lời giải cho 2 bài toán sinh kế và môi trường

(VNF) - Nông nghiệp sinh thái đang được nhìn nhận như một hướng đầu tư mới không chỉ giúp phục hồi hệ sinh thái, tăng khả năng chống chịu trước thời tiết cực đoan mà còn mở ra cơ hội tạo giá trị kinh tế dài hạn cho khu vực nông thôn. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, bài toán về nguồn lực, mô hình và cơ chế hỗ trợ vẫn là thách thức lớn.

Hà Nội khởi công Nhà máy điện rác Núi Thoong công suất 2.000 tấn/ngày đêm

Hà Nội khởi công Nhà máy điện rác Núi Thoong công suất 2.000 tấn/ngày đêm

(VNF) - Dự án Nhà máy xử lý môi trường và phát điện công nghệ cao Núi Thoong có tổng vốn đầu tư khoảng 5.250 tỷ đồng, công suất xử lý 2.000 tấn rác/ngày đêm, công suất phát điện 45MW.

Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam phải tăng tốc chuyển đổi xanh

Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam phải tăng tốc chuyển đổi xanh

(VNF) - Trong bối cảnh áp lực giảm phát thải, tiêu chuẩn xanh toàn cầu và yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng gia tăng. Chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để Việt Nam xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Đầu tư tăng trưởng xanh: Luật chơi mới của toàn cầu, Việt Nam phải nâng chuẩn chính mình

Đầu tư tăng trưởng xanh: Luật chơi mới của toàn cầu, Việt Nam phải nâng chuẩn chính mình

(VNF) - Đầu tư cho “xanh” có thể làm tăng chi phí trước mắt, nhưng lại mở ra cơ hội nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Khi tiêu chuẩn môi trường ngày càng siết chặt, “xanh hóa” dần trở thành yêu cầu bắt buộc với doanh nghiệp.

Điện rác: Lời giải bài toán xử lý chất thải

Điện rác: Lời giải bài toán xử lý chất thải

(VNF) - Mô hình nhà máy điện rác tại Sóc Sơn không chỉ góp phần giải quyết bài toán rác thải đô thị mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, khi vừa xử lý chất thải, vừa tạo ra nguồn năng lượng hữu ích cho xã hội.

56 quốc gia đạt thỏa thuận lịch sử loại bỏ nhiên liệu hóa thạch

56 quốc gia đạt thỏa thuận lịch sử loại bỏ nhiên liệu hóa thạch

(VNF) - Một nhóm gồm 56 quốc gia đã đạt được đồng thuận về việc xây dựng lộ trình loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch, trong một hội nghị quốc tế diễn ra tại Santa Marta, đánh dấu bước tiến mới trong nỗ lực toàn cầu nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và khủng hoảng năng lượng.

Hà Nội khoanh vùng phát thải thấp: ‘Nhà hoạch định chính sách cần đứng vị trí người dân’

Hà Nội khoanh vùng phát thải thấp: ‘Nhà hoạch định chính sách cần đứng vị trí người dân’

(VNF) - TS Trần Hữu Minh, Chánh Văn phòng Ủy ban ATGT Quốc gia, ủng hộ việc UBND TP Hà Nội chuẩn bị triển khai mô hình vùng phát thải thấp. Tuy nhiên, ông cho rằng nhà hoạch định chính sách cần đứng ở vị trí người dân.