(VNF) - Thị trường bất động sản “đóng băng”, nhiều dự án “đắp chiếu” không rõ thời gian thi công trở lại, xuất hiện tranh chấp giữa chủ đầu tư và người mua nhà với phần lớn thiệt hại thuộc về khách hàng… tất cả đã làm dấy lên lo ngại đối với việc mua nhà ở hình thành trong tương lai. Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với TS Lưu Quốc Thái, Khoa Luật thương mại, Trường đại học Luật TP. HCM, về vấn đề này.
- Hiện nay, tình hình thị trường trầm lắng, nhiều dự án địa ốc đình đốn, vướng pháp lý… gây rủi ro khách hàng, nhất là các sản phẩm nhà ở hình thành trong tương lai. Ông có thể phân tích cụ thể các rủi ro mà người mua sản phẩm này có thể gặp phải?
TS Lưu Quốc Thái: So với hình thức kinh doanh nhà ở có sẵn, hình thức mua bán nhà hình thành trong tương lai có ưu điểm là người mua có thể thanh toán theo tiến độ xây dựng nhà, không phải thanh toán một lần với số tiền lớn. Tuy nhiên hình thức này cũng ẩn chứa nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất chính là mất tiền mà không nhận được nhà bởi sản phẩm có thể không hình thành được. Thị trường có không ít trường hợp chủ đầu tư “ôm” tiền của khách hàng bỏ trốn hoặc lừa đảo bằng cách bán một căn nhà cho nhiều người. Ngoài ra, trường hợp chủ đầu tư có những vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện dự án (ví dụ xây dựng không đúng với giấy phép) thì khách hàng cũng có thể không nhận được sản phẩm dù đã trả tiền.
Rủi ro kế tiếp là không được nhận nhà theo đúng tiến độ và chất lượng như đã thỏa thuận do nhiều nguyên nhân khác nhau. Thiếu vốn là nguyên chính của của loại vi phạm này hoặc chủ đầu tư cố tình chiếm dụng vốn của khách hàng để đầu tư dàn trải. Khách hàng cũng phải chấp nhận rủi ro chậm hoặc không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu xuất phát từ nguyên nhân chủ đầu tư có những vi phạm trong quá trình đầu tư xây dựng, thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đai dự án, không thể thực hiện thủ tục hoàn công…
- Để đảm bảo quyền lợi của người mua nhà ở hình thành trong tương lai, pháp luật đã có quy định cụ thể việc thực hiện biện pháp bảo lãnh của ngân hàng thương mại đối với sản phẩm này. Tuy nhiên thực tế vẫn xảy ra các tranh chấp mà thiệt hại thuộc về khách hàng. Ở góc độ pháp lý, ông có quan điểm như thế nào về vấn đề này?
Biện pháp bảo lãnh của ngân hàng thương mại đã được quy định cụ thể tại Điều 56 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 “chủ đầu tư dự án bất động sản trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải được ngân hàng thương mại có đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng khi chủ đầu tư không bàn giao nhà ở theo đúng tiến độ đã cam kết”.
Trên cơ sở này, Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 13/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017) của Ngân hàng Nhà nước đã có những quy định cụ thể về vấn đề bảo lãnh nói trên. Các văn bản này gần đây đã bị thay thế bởi Thông tư 11/2022/TT-NHNN ngày 30/9/2022 về bảo lãnh ngân hàng với nhiều quy định hoàn thiện hơn.
Nhưng trên thực tế, nhiều chủ đầu tư đã không nghiêm túc thực hiện thủ tục bảo lãnh cho khách hàng với nhiều lý do khác nhau. Về nguyên tắc, sau khi hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai được ký kết, ngân hàng thương mại phải cam kết bảo lãnh cho bên mua bằng chứng thư bảo lãnh và gửi đến cho bên mua theo hợp đồng bảo lãnh đã ký với chủ đầu tư. Mặc dù pháp luật quy định mức phạt tiền từ 400 – 600 triệu đồng đối với chủ đầu tư “bán hoặc cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai mà không có hợp đồng với ngân hàng thương mại đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư khi chủ đầu tư không bàn giao nhà ở theo đúng tiến độ đã cam kết với khách hàng hoặc nội dung hợp đồng bảo lãnh không đúng, không đầy đủ theo quy định của pháp luật” (theo điểm d, khoản 3, Điều 58 Nghị định 16/2022/NĐ-CP) nhưng do thực tế ít có chủ đầu tư bị xử phạt theo quy định này nên quy định về bảo lãnh không được thực hiện nghiêm túc.
Bên cạnh đó, xét ở góc độ pháp lý, quy định về bảo lãnh như hiện nay vẫn còn một vài vấn đề cần làm rõ đó là nghĩa vụ tài chính mà chủ đầu tư được ngân hàng thương mại đảm bảo theo quy định của Ngân hàng Nhà nước chỉ là “tiền ứng trước” của khách hàng. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 56 Luật Kinh doanh bất động sản thì khoản tiền mà ngân hàng thương mại bảo lãnh có thể phải chi trả thay chủ đầu tư không chỉ là tiền ứng trước bởi nó có “khoản tiền khác”, có thể là tiền phạt hợp đồng, tiền bồi thường (nếu có).
TS Lưu Quốc Thái
Hai là, thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại là thời điểm nào: bắt đầu từ thời điểm ký kết hợp đồng bảo lãnh hay từ thời điểm ngân hàng thương mại có thông báo chính thức cho chủ đầu tư về việc chấp nhận bảo lãnh đối với dự án bất động sản? Đây là điều rất quan trọng, bởi trên thực tế, các chủ đầu tư dự án nhà ở thường nhận tiền ứng trước từ khách hàng ngay sau khi dự án được công bố dưới hình thức “tiền đặt chỗ”, “tiền đặt cọc” vì lý do chưa đủ điều kiện ký hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai. Các khoản tiền này hầu như không có giới hạn do pháp luật không có quy định cụ thể.
Ba là, thời điểm ký kết hợp đồng bảo lãnh là thời điểm nào, trước hay sau khi chủ đầu tư ký hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai với khách hàng? Theo khoản 1, Điều 56 Luật Kinh doanh bất động sản thì hợp đồng này phải ký trước khi chủ đầu tư ký hợp đồng bán nhà nhưng Thông tư 07/2015/NHNN dường như có quy ngược lại (điểm b, khoản 1, Điều 12). Quy định của Ngân hàng Nhà nước cũng có lý khi nghĩa vụ bảo lãnh phải là một (hoặc những) nghĩa vụ phải đã được xác định cụ thể (trong trường hợp này là nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán nhà giữa chủ đầu tư với khách hàng cụ thể). Bất cập này gần đây đã được khắc phục tại khoản 4, Điều 13 Thông tư 11/2022/TT-NHNN (mới có hiệu lực từ 1/4/2023).
Bốn là, thời điểm kết thúc hợp đồng bảo lãnh quy định chưa thống nhất. Theo Luật Kinh doanh bất động sản, “hợp đồng bảo lãnh có thời hạn cho đến khi nhà ở được bàn giao cho bên mua, bên thuê mua” (khoản 2, Điều 56) trong khi đó, trước đây Thông tư 07/2015/TT-NHNN quy định: “cam kết bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải có hiệu lực đến thời điểm ít nhất sau 30 ngày kể từ ngày bàn giao nhà cho bên mua”.
Như vậy, sau khi đã nhận bàn giao nhà và hợp đồng hợp đồng bảo lãnh chấm dứt thì các nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với khách hàng mà chưa thực hiện được sẽ không được đảm bảo. Gần đây, điểm a, khoản 6, Điều 13 Thông tư 11/2022/TT-NHNN có quy định: “Thư bảo lãnh có hiệu lực kể từ thời điểm phát hành cho đến thời điểm ít nhất sau 30 ngày kể từ thời hạn giao, nhận nhà theo cam kết tại hợp đồng mua, thuê mua nhà ở, trừ trường hợp nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt theo quy định tại Điều 23 Thông tư này. Trường hợp ngân hàng thương mại và chủ đầu tư chấm dứt hợp đồng bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai trước thời hạn, các thư bảo lãnh đã phát hành cho các bên mua trước đó vẫn có hiệu lực cho đến khi nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt”. Quy định này đã giúp khắc phục những bất cập trước đây.
- Theo ông đâu là nguyên nhân chính của vấn đề này?
Như đã nói ở trên, việc thực hiện quy định về bảo lãnh đối với các chủ đầu tư ở Việt Nam phần lớn không được thực hiện nghiêm túc. Nguyên nhân là do năng lực tài chính của chủ đầu tư không cao, luôn phải tìm cách huy động vốn để thực hiện dự án nên không thể có tiền nhàn rỗi ký quỹ cho các tổ chức tín dụng để được bảo lãnh nghĩa vụ của mình đối với khách hàng. Tình trạng khủng hoảng trái phiếu bất động sản trong thời gian gần đây là minh chứng.
Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là do quy định pháp luật về năng lực tài chính đối với các chủ đầu tư dự án bất động sản còn nhiều kẽ hở. Cụ thể, theo Điều 14 Nghị định 43/2014/NĐ-CP và khoản 2, Điều 2 Nghị định 02/2022/NĐ-CP thì chủ đầu tư chỉ cần “có vốn chủ sở hữu không thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20ha, không thấp hơn 15% tổng vốn đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất từ 20ha trở lên” thì được coi là có năng lực tài chính để thực hiện dự án. Phần vốn còn lại họ có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau.
Sự bất hợp lý càng lớn hơn khi pháp luật không quy định rõ tỷ lệ vốn nói trên được áp dụng đối với một hay nhiều dự án. Điều này dẫn đến việc một số chủ đầu cùng một lúc triển khai nhiều dự án nhưng chỉ có một nguồn vốn duy nhất đáp ứng đủ điều kiện thực hiện một dự án. Họ đưa vào báo cáo tài chính để chứng minh năng lực cho nhiều dự án khác nhau, dễ dẫn tới tình trạng dự án treo do không thu xếp được nguồn vốn.
Ngoài ra nguyên nhân không nhỏ dẫn đến rủi ro cho người mua nhà hình thành trong tương lai là ý thức thiếu thượng tôn pháp luật của chủ đầu tư vì lợi nhuận có được nhanh chóng thông qua hành vi “đầu cơ, lướt sóng”. Hầu như không có khách hàng cá nhân nào sử dụng dịch vụ pháp lý khi tiến hành loại giao dịch bất động sản này. Tất cả đều muốn “mua nhanh, bán nhanh” để không bị “mất phần”. Bởi vậy người mua nhà phải tỉnh táo để “chọn mặt gửi vàng”, khi thị trường “sốt, nóng”, càng phải cẩn thận hơn để lúc “đóng băng” không rơi vào tình trạng “tiền mất tật mang”.
(VNF) - Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 – 2030, theo ông Nguyễn Bá Hùng - Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, việc cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và khơi thông nguồn lực của khu vực tư nhân sẽ giữ vai trò then chốt đối với tăng trưởng bền vững trong những năm tới.
(VNF) - Theo chuyên gia, năm 2026 thị trường bảo hiểm nhân thọ có một số yếu tố ảnh hưởng mới, do đó để tăng trưởng bền vững, các doanh nghiệp bảo hiểm cần tập trung vào “đào tạo” song song 2 mục tiêu: đại lý/tư vấn viên và khách hàng.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Đại học Kinh tế TP. HCM (UEH), Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP. HCM (IFC-HCM) khẳng định việc công bố thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa mở rộng không gian phát triển cho lĩnh vực tài chính, mà còn được nhìn nhận là bước đi chiến lược nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng của kinh tế nước ta trong bối cảnh thế giới biến động mạnh, bất ổn gia tăng và các cú sốc bên ngoài diễn ra dồn dập.
(VNF) - Việc Đà Nẵng được lựa chọn là một trong hai địa điểm hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam không chỉ mở ra không gian phát triển mới cho thành phố, mà còn đặt nền móng để địa phương này từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới tài chính khu vực và toàn cầu.
(VNF) - Quốc hội đã quyết nghị tăng trưởng năm 2026 ở mức 10%. Để hiện thực hóa mục tiêu này, theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn - iảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright tính toán, thì vốn đầu tư công năm 2026 có thể lên tới 1,65 triệu tỷ đồng nhưng hiệu quả đầu tư mới là yếu tố then chốt.
(VNF) - Năm 2026, cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng các chính sách hỗ trợ sẽ đi vào thực chất, tạo những cú hích đủ mạnh cho môi trường kinh doanh. Qua đó, mở ra các động lực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế còn nhiều thách thức.
(VNF) - Các tập đoàn công nghệ lớn của Việt Nam chung nhận định: trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng khốc liệt, việc làm chủ công nghệ lõi và xây dựng hạ tầng số tự chủ là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm chủ quyền quốc gia và năng lực phát triển bền vững.
(VNF) - Theo TS. Phan Hữu Thắng - Chủ tịch Liên chi hội tài chính Khu công nghiệp Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), năm 2025, FDI tiếp tục giữ vai trò đầu tàu trong dòng vốn ngoại vào Việt Nam, trong khi FII và FPI dù khởi sắc nhưng vẫn chưa tạo được thế cân bằng.
(VNF) - PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng, Nghị định 296/2025 của Chính phủ quy định cơ chế cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hộ kinh doanh là một bước nâng chuẩn thể chế kỷ luật thị trường được siết chặt, “vùng xám” tài sản – dòng tiền – trách nhiệm bị thu hẹp, và kinh doanh gia đình buộc phải bước vào quỹ đạo minh bạch hơn nếu muốn phát triển bền vững.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình – Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, Việt Nam có đủ nền tảng để duy trì tăng trưởng GDP ở mức 8 – 12% trong 5 năm tới, qua đó nâng nhanh thu nhập bình quân đầu người và tạo dư địa lớn cho thị trường bất động sản, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, đầu tư hạ tầng được đẩy mạnh và các động lực mới như thương mại điện tử, du lịch tiếp tục bứt phá.
(VNF) - Theo ông Nguyễn Lê Bình - Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo, giảm nghèo bền vững sau 2025 không thể trông chờ vào một trụ cột đơn lẻ, mà cần sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng để tránh tái nghèo trước các cú sốc kinh tế – xã hội.
(VNF) - Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, giảm nghèo bền vững không thể chỉ dựa vào hỗ trợ thu nhập mà cốt lõi là đầu tư cho năng lực con người, trong đó y tế giữ vai trò nền tảng. Khi người dân được bảo đảm chăm sóc sức khỏe và giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh, họ mới có đủ điều kiện lao động, tạo sinh kế và chủ động vươn lên thoát nghèo.
(VNF) - Trong hành trình giảm nghèo bền vững, thực tiễn ở nhiều địa phương cho thấy: chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi xuất phát từ nhu cầu thật của người dân. Những cuộc đối thoại trực tiếp, thẳng thắn giữa chính quyền cơ sở với nhân dân không chỉ giúp tháo gỡ khó khăn trước mắt, mà còn khơi dậy ý chí tự lực, tạo nền tảng lâu dài để người dân vươn lên thoát nghèo.
(VNF) - Tại Quảng Ngãi, việc đầu tư cho truyền thông, đưa chính sách đến gần hơn với người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, đang dần trở thành “đòn bẩy mềm”, giúp chính sách đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến thực chất trong công cuộc giảm nghèo.
(VNF) - PGS.TS. Ngô Trí Long - Nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả, Bộ Tài chính - nhận định rằng, nếu không cải cách, Việt Nam sẽ khó cạnh tranh với các trung tâm tài chính quốc tế tại Singapore, Hồng Kông, Dubai,...
(VNF) - Theo chuyên gia truyền thông Lê Quốc Vinh, xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là bài toán kinh tế học, mà là một chiến dịch xây dựng thương hiệu quốc gia (Nation Branding) ở cấp độ cao nhất. VietnamFinance trân trọng giới thiệu góc nhìn của ông về vấn đề này.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, TS. Vũ Hoàng Linh - Chuyên gia kinh tế, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, đã đến lúc cần nhìn lại đào tạo nghề không phải như một hoạt động hỗ trợ đơn lẻ, mà như một mắt xích then chốt trong chiến lược phát triển sinh kế bền vững.
(VNF) - Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, với việc ban hành đồng bộ 8 nghị định, Chính phủ khẳng định quyết tâm xây dựng một trung tâm tài chính phát triển nhanh, bền vững, có tính cạnh tranh và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Không bắt đầu từ những dự án lớn hay khoản đầu tư hàng chục tỷ đồng, hành trình giảm nghèo bền vững ở miền Tây Quảng Trị đang được khơi mở từ những lớp học xóa mù chữ dành cho phụ nữ dân tộc thiểu số. Ở đó, tri thức trở thành “điểm tựa mềm” nhưng mang tính quyết định, giúp người dân tiếp cận chính sách, vận dụng hỗ trợ và từng bước thoát nghèo một cách bền vững.
(VNF) - Ông Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho rằng, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số được đặt ra cho giai đoạn tới, bài toán nguồn vốn đang trở thành vấn đề sống còn. Khi hệ thống ngân hàng đã tiệm cận giới hạn mở rộng tín dụng, việc phát triển mạnh mẽ thị trường vốn - đặc biệt là thị trường chứng khoán - được xem là chìa khóa để tạo dư địa tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế Việt Nam.
(VNF) - Thiếu thông tin không chỉ làm hạn chế cơ hội phát triển mà còn là rào cản lớn khiến người nghèo khó có thể thoát nghèo một cách bền vững. Vì vậy, trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, bên cạnh việc hỗ trợ về sinh kế, tín dụng, y tế hay giáo dục, một yếu tố ngày càng được khẳng định có vai trò nền tảng, đó là giảm nghèo thông tin.
(VNF) - Những đồng vốn nhỏ, được phân bổ từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021–2025, đang từng bước trở thành “bệ phóng” giúp người nghèo Hà Tĩnh chuyển từ tư duy trông chờ hỗ trợ sang chủ động tổ chức sản xuất, nâng thu nhập và hình thành sinh kế ổn định.
(VNF) - Từ những lớp học nghề đỏ đèn đến tận đêm khuya, đến dòng công nhân trẻ nối nhau vào Khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh đang chứng kiến cuộc “lột xác” lớn nhất 10 năm: chuyển từ lao động phổ thông sang lực lượng lao động kỹ thuật. Một hành trình bắt đầu từ nông thôn, nhưng đang làm thay đổi cả bản đồ việc làm của tỉnh.
(VNF) - Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 – 2030, theo ông Nguyễn Bá Hùng - Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, việc cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và khơi thông nguồn lực của khu vực tư nhân sẽ giữ vai trò then chốt đối với tăng trưởng bền vững trong những năm tới.