Trái dừa Việt gặp khó trước ngưỡng vào 'câu lạc bộ tỷ USD'
(VNF) - Các chuyên gia đánh giá tài nguyên bản địa là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Sau thành công của sầu riêng, dừa là sản phẩm cần được chú trọng phát triển. Trong công cuộc trở thành sản phẩm xuất khẩu bền vững, ngành dừa cần phải giải quyết 2 thách thức bao gồm chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
- Tiêu chuẩn xanh cao, DN xuất khẩu 'đã nghèo còn mắc cái eo' 12/12/2024 11:23
Kỳ vọng vượt mốc 1 tỷ USD xuất khẩu
Thông tin đưa ra tại Diễn đàn “Kết nối sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dừa” cho biết dừa là 1 trong 6 đối tượng nằm trong Đề án phát triển cây công nghiệp chủ lực đến năm 2030 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành. Hiện nay, ngành dừa Việt Nam, với diện tích gần 200.000 ha, đang trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung. Từ con số khiêm tốn chỉ 180 triệu USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2010, ngành dừa đã phát triển mạnh mẽ, đạt hơn 900 triệu USD vào năm 2023 và kỳ vọng vượt mốc 1 tỷ USD trong năm 2024.
“Chúng ta không có năng lực sản xuất như Trung Quốc. Chúng ta cũng không cạnh tranh với Trung Quốc bằng giá rẻ. Vậy chúng ta phải có cái gì mà Trung Quốc không thể bắt chước, không thể làm theo được, đó chính là tài nguyên bản địa. Đó là dựa vào những sản phẩm chỉ nuôi, trồng, phát triển ở Việt Nam. Thành công của trái sầu riêng thời gian qua là một minh chứng và bây giờ là câu chuyện của trái dừa Bến Tre”, ông Nguyễn Phạm Hà Minh, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) cho biết.
Nêu bật thêm tiềm năng của sản phẩm dừa, ông Nguyễn Phong Phú, phó Giám đốc kỹ thuật của Tập đoàn Vina T&T đánh giá Việt Nam có thuận lợi về vùng trồng với sản lượng cao và ổn định, cùng với đó là nằm ở trung tâm một khu vực thị trường lớn. Chưa kể, những thuận lợi về cảng biển và kể cả đường bộ với những kho hàng lớn.
“Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của trái dừa Việt Nam. Trung Quốc hiện chỉ mua dừa tươi số lượng nhỏ, nhưng dừa khô, sữa dừa thì họ nhập rất lớn. Một doanh nghiệp Trung Quốc có thể mua 5-10 container nước sữa dừa, 1 container nước sữa dừa tương đương 100.000 trái dừa tươi, tức là số lượng rất lớn”, ông Phú nhấn mạnh.
Tuy nhiên, ở mặt khó khăn, ông Nguyễn Phong Phú cũng chỉ ra chất lượng, bảo quản hoặc mọc mầm trong quá trình vận chuyển với dừa khô, nhất là những đơn vị xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ đòi hỏi việc bảo quản nghiêm ngặt về bảo quản trong quá trình vận chuyển đường dài. Tiếp đến là các tiêu chuẩn chất lượng, nghiêm ngặt đến từ các thị trường châu Âu và Mỹ, cũng như mã số vùng trồng với thị trường Trung Quốc.
“Một khó khăn khác là chi phí logistics. Trước Covid-19, một container xuất sang Mỹ cỡ 40 triệu thì nay đã lên đến 200 triệu đồng. Chi phí tăng làm cho giá tăng, khiến nhu cầu giảm”, ông Nguyễn Phong Phú cho hay.

Thách thức chuyển đổi xanh
Phân tích về những đổi mới và tác động của công nghệ đối với các sản phẩm nông nghiệp nói chung và cây dừa nói riêng, TS. Lê Hoài Quốc, Chủ tịch Hội tự động hóa TP. HCM cho hay trồng dừa không chỉ là ngành nông nghiệp mà khai thác các sản phẩm từ dừa còn là một ngành công nghiệp quan trọng của thế giới. Tuy nhiên, cũng như mọi ngành công nghiệp khác, ông Quốc cho hay ngành công nghiệp khai thác, chế biến dừa cũng phải thích ứng với những bối cảnh mới của công nghệ và môi trường.
Theo vị TS, để chống lại những vấn đề này, các nhà nghiên cứu đang phát triển các giống dừa thích ứng với khí hậu có thể chịu được hạn hán, sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt. Mục tiêu của các giải pháp này là tăng sự ổn định năng suất và giảm tổn thất, đảm bảo ngành công nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu toàn cầu, dự kiến sẽ tăng 5% hàng năm do sự quan tâm của người tiêu dùng ngày càng tăng đối với các sản phẩm làm từ dừa.
“Trồng dừa hữu cơ đang gia tăng, quy mô thị trường hữu cơ dự kiến sẽ tăng 7% mỗi năm. Sự thay đổi này làm giảm nhu cầu phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, làm cho việc trồng dừa thân thiện với môi trường hơn. Các khu vực như Ấn Độ, nơi sản xuất hơn 20 tỷ quả dừa mỗi năm, những hoạt động này đang giúp bảo vệ môi trường đồng thời đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm hữu cơ. Tương lai của nghề trồng dừa phụ thuộc vào việc nắm bắt sự đổi mới và bền vững. Trong tương lai, nông dân sản xuất nhỏ là xương sống của quá trình này. Họ là những người cần hỗ trợ, từ việc thay đổi nhận thức cho đến hỗ trợ chuyển giao công nghệ và giống”, ông Quốc nêu.
Củng cố thêm quan điểm của ông Quốc, ông Nguyễn Huy, Giám đốc dịch vụ đảm bảo kinh doanh và thực phẩm, Công ty tiêu chuẩn toàn cầu INTERTEK cho rằng để sản phẩm dừa có thể xuất khẩu bền vững thì cần những doanh nghiệp dẫn đầu để kết nối các hợp tác xã, người nông dân. Để làm được điều đó thì phải giải quyết hai thách thức bao gồm chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, sản phẩm dừa cũng cần phải đáp ứng được các tiêu chuẩn trên toàn cầu, từ việc theo dõi vùng trồng đến nhà máy chế biến.
“Các doanh nghiệp dẫn đầu phải nói với các nhà mua hàng ở châu Âu, Bắc Mỹ xem mình bền vững như thế nào? Trong đó, ngoài những tiêu chuẩn đến môi trường xã hội, hướng về quản trị như thế nào cũng rất quan trọng trong đó có việc phân phối các giá trị đến từng người nông dân”, ông Nguyễn Huy nói.
Đưa ra giải pháp, TS Huỳnh Kỳ Trân, CEO Công ty TNHH Sản xuất Mỹ phẩm Lan Hảo (Thorakao) cũng nhấn mạnh để đi vào kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trước hết, các địa phương trồng dừa với diện tích lớn như Bến Tre cũng cần tập trung vào những thế mạnh có thể nhìn thấy ngay là năng lượng gió và năng lượng mặt trời.
"Nói về tài nguyên, nếu biết khai thác thì Bến Tre không thể nghèo được, vì ngoài trái dừa và các cây ăn trái khác thì Bến Tre còn có đủ vùng nước ngọt, vùng nước lợ, vùng nước mặt với 8 mặt sông. Tức là nếu biết phát triển thì chúng ta "ngon lành".
Nói riêng về trái dừa, vấn đề bây giờ chúng ta phải làm sao để nâng cao giá trị của nó. Để làm sao một trái dừa có thể bán được 10 USD, 100 USD như cách người Nhật, người Thái bán trái cam, trái chôm chôm vậy. Khía cạnh khác là phát triển các sản phẩm chế biến sâu từ trái dừa. Nghiên cứu và tìm cách khai thác các giá trị dược liệu từ trái dừa từ những kinh nghiệm và kiến thức bản địa, tạo ra một nét đặc sắc không đâu có từ trái dừa Bến Tre. Đó là điều mà chúng ta, nhất là các doanh nghiệp, doanh nghiệp lớn phải lưu tâm chú ý”, TS Huỳnh Kỳ Trân nói.
'Cấy gen xanh' vào đô thị Hà Nội: Cần ưu tiên làm sạch các dòng sông
Tiêu chuẩn xanh cao, DN xuất khẩu 'đã nghèo còn mắc cái eo'
(VNF) - Theo bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao, mặc dù sức mua toàn cầu giảm nhưng tiêu chuẩn xanh lại đưa ra rất cao, tạo ra thách thức lớn cho các nhà xuất khẩu của Việt Nam.
'Cấy gen xanh' vào đô thị Hà Nội: Cần ưu tiên làm sạch các dòng sông
(VNF) - Theo các chuyên gia, khi phát triển đô thị xanh tại TP. Hà Nội, cần chọn các vấn đề nóng, ưu tiên thực hiện trước. Trong đó, việc làm sạch sông Tô Lịch là ví dụ điển hình.
Gia tăng nguy cơ ‘tẩy xanh’, gây mất niềm tin về tài chính xanh
(VNF) - Việc thiếu khung pháp lý, các quy định và tiêu chí xác định dự án xanh không chỉ làm giảm hiệu quả trong phân bổ vốn mà còn tăng nguy cơ xuất hiện các trường hợp "greenwashing" (tẩy xanh), gây mất niềm tin trong hệ sinh thái tài chính xanh.
DN ‘đau đầu’ chuyển đổi năng lượng: Thiếu vốn để đầu tư cho tương lai
(VNF) - Dù chuyển đổi năng lượng đang trở thành xu hướng tất yếu, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn gặp khó khi triển khai do vướng bài toán vốn đầu tư ban đầu.
Từ hôm nay 1/7: Hà Nội hạn chế xe chạy xăng ở vùng lõi Hoàn Kiếm
(VNF) - Hà Nội không cấm toàn bộ xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch nhưng sẽ hạn chế theo loại phương tiện và khung giờ tại phường Hoàn Kiếm từ hôm nay (1/7).
Malaysia: Không tăng giá điện với người nghèo, hoàn tiền lắp điện mặt trời 50.000 hộ dân
(VNF) - Chính phủ Malaysia vừa tung gói hỗ trợ mới cho các hộ gia đình lắp điện mặt trời mái nhà, với mức hỗ trợ tối đa 3.000 RM (gần 20 triệu đồng/hộ), trong nỗ lực thúc đẩy chuyển đổi năng lượng và giảm áp lực chi phí điện trước biến động nguồn cung toàn cầu.
Nâng chuẩn xanh: Cơ hội dài hạn và áp lực vốn đầu tư trước mắt
(VNF) - Trước áp lực ngày càng lớn từ các tiêu chuẩn xanh toàn cầu, doanh nghiệp Việt đang bước vào cuộc đua chuyển đổi xanh để giữ thị trường, duy trì chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh. Chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều kiện sống còn trong bối cảnh mới.
Một đồng vốn và lời giải cho 2 bài toán sinh kế và môi trường
(VNF) - Nông nghiệp sinh thái đang được nhìn nhận như một hướng đầu tư mới không chỉ giúp phục hồi hệ sinh thái, tăng khả năng chống chịu trước thời tiết cực đoan mà còn mở ra cơ hội tạo giá trị kinh tế dài hạn cho khu vực nông thôn. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, bài toán về nguồn lực, mô hình và cơ chế hỗ trợ vẫn là thách thức lớn.
Hà Nội khởi công Nhà máy điện rác Núi Thoong công suất 2.000 tấn/ngày đêm
(VNF) - Dự án Nhà máy xử lý môi trường và phát điện công nghệ cao Núi Thoong có tổng vốn đầu tư khoảng 5.250 tỷ đồng, công suất xử lý 2.000 tấn rác/ngày đêm, công suất phát điện 45MW.
Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam phải tăng tốc chuyển đổi xanh
(VNF) - Trong bối cảnh áp lực giảm phát thải, tiêu chuẩn xanh toàn cầu và yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng gia tăng. Chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để Việt Nam xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đầu tư tăng trưởng xanh: Luật chơi mới của toàn cầu, Việt Nam phải nâng chuẩn chính mình
(VNF) - Đầu tư cho “xanh” có thể làm tăng chi phí trước mắt, nhưng lại mở ra cơ hội nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Khi tiêu chuẩn môi trường ngày càng siết chặt, “xanh hóa” dần trở thành yêu cầu bắt buộc với doanh nghiệp.
Điện rác: Lời giải bài toán xử lý chất thải
(VNF) - Mô hình nhà máy điện rác tại Sóc Sơn không chỉ góp phần giải quyết bài toán rác thải đô thị mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, khi vừa xử lý chất thải, vừa tạo ra nguồn năng lượng hữu ích cho xã hội.












