Mức bảo hộ danh nghĩa và Mức bảo hộ thực tế là gì?

Minh Anh - 30/07/2018 22:11 (GMT+7)

(VNF) - Cùng VietnamFinance tìm hiểu Mức bảo hộ danh nghĩa (nominal rate of protection) và Mức bảo hộ thực tế (effective rate of protection) là gì?

VNF
Mức bảo hộ danh nghĩa là mức các nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng trong nước được hưởng khi áp dụng thuế quan, còn mức bảo hộ thực tế là mức họ thực tế được hưởng.

Mức bảo hộ danh nghĩa là gì?

Mức bảo hộ danh nghĩa (nominal rate of protection) là mức bảo hộ mà các nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng trong nước được hưởng khi áp dụng thuế quan đối với sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh.

Chẳng hạn, ban đầu sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu đều bán với giá 100 nghìn đồng. Nếu chính phủ đánh thuế vào hàng nhập khẩu bằng 10% giá trị hàng hóa thì giá hàng nhập khẩu sẽ tăng lên 110 nghìn đồng. Vì các nhà sản xuất trong nước cũng có thể bán với giá này, nên những nhà sản xuất có chi phí sản xuất cao hơn có thể gia nhập thị trường. Trong trường hợp đó, chúng ta nói mức bảo hộ các nhà sản xuất trong nước bằng 10% giá hàng nhập khẩu. Nếu mức bảo hộ cao hơn, những người có chi phí sản xuất cao hơn nữa cũng được bảo hộ và gia nhập thị trường hoặc không phải rời bỏ thị trường khi chính phủ mở cửa thị trường và cho phép các nhà sản xuất nước ngoài thâm nhập vào thị trường trong nước.

Mức bảo hộ thực tế là gì?

Mức bảo hộ thực tế (effective rate of protection) là mức bảo hộ mà người sản xuất sản phẩm cuối cùng trong nước thực tế được hưởng khi áp dụng thuế quan đối với hàng nhập khẩu cạnh tranh, nhưng không phải chịu thuế hoặc chịu mức thuế thấp hơn mức thuế áp dụng cho các đầu vào nhân tố được nhập khẩu để sản xuất sản phẩm đó.

Ví dụ, giả sử ban đầu sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu đều giá 100 nghìn đồng. Giả sử giá hàng sản xuất trong nước gồm 50% giá trị gia tăng do các đầu vào của nhân tố trong nước tạo ra và do 50% nguyên liệu nhập khẩu tạo ra. Nếu áp dụng thuế quan bằng 10% giá trị giá trị hàng nhập khẩu, giá của nó sẽ tăng lên là 110 nghìn đồng. Nếu không áp dụng thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu, giá của nó vẫn bằng 50 nghìn đồng. Điều này cho phép giá trị gia tăng và sản phẩm cuối cùng trong nước tăng thêm 10 nghìn đồng mà không gây tổn hại gì đến khả năng cạnh tranh của nó với hàng nhập khẩu. Như vậy, mức bảo hộ thực tế mà nhà sản xuất trong nước nhận được là 20% (10 nghìn đồng giá trị chia cho 50 nghìn đồng giá trị gia tăng).

Công thức tính mức bảo hộ thực tế được thể hiện như sau:

ERP = (Vd - Vw) / Vw

Trong đó, Vd là giá trị gia tăng nội địa khi có thuế nhập khẩu, còn Vw là giá trị gia tăng nội địa khi chưa có thuế nhập khẩu. 

Tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu (ERP) biểu thị mối tương quan giữa thuế suất danh nghĩa đánh trên sản phẩm cuối cùng và thuế suất danh nghĩa đánh trên nguyên liệu nhập khẩu của sản phẩm đó, nhằm bảo hộ cho sản xuất nội địa.

Tóm lại để khuyến khích sản xuất trong nước, chính phủ thường giữ cho mức thuế danh nghĩa (thuế thành phẩm) luôn cao hơn mức thuế thực tế (thuế nguyên vật liệu). Đối với những nguyên vật liệu trong nước không sản xuất được hoặc kém hiệu quả, chính phủ thường dùng mức thuế suất bằng 0%.

(Tài liệu tham khảo: Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân)

Cùng chuyên mục
Tin khác