'Tin vào tư nhân để khơi thông dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước'
Nguyễn Hồng -
22/10/2018 09:08 (GMT+7)
(VNF) - Theo đánh giá của TS. Trần Đình Thiên, cần tin vào kinh tế tư nhân, thực sự phục vụ họ, coi đây chính là sứ mệnh cao cả của “Nhà nước kiến tạo phát triển” thì mới có thể khơi thông dòng vốn trong và ngoài nước để phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam.
TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam
TS. Trần Đình Thiên nói:
“Sau 30 năm đổi mới, cơ sở hạ tầng của Việt Nam đã được cải thiện nhiều. Giờ đây, chúng ta đã có mấy trăm km đường bộ cao tốc, nhiều tuyến đường bộ, nhiều cầu lớn, sân bay, cảng biển được xây dựng mới, nâng cấp và hiện đại hóa, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và có độ mở cửa cao.
Ngoài ra, còn phải kể đến hạ tầng đô thị và hạ tầng công nghiệp – gồm hạ tầng năng lượng, hạ tầng các khu công nghiệp, khu kinh tế, - cũng có những bước tiến mạnh mẽ.
Trong số này, có những công trình làm chúng ta tự hào – những chiếc cầu, những nhà máy thủy điện lớn, đường dây 500 KVA, và gần đây, cả sân bay hiện đại. Nếu kể thêm vào đó “hạ tầng thông tin – viễn thông”, được coi là “hạ tầng của hạ tầng”, được thiết lập trên phạm vi cả nước thì thành tích còn tăng thêm một bậc quan trọng.
Tuy nhiên, phải nhìn nhận khách quan rằng về tổng thể, những kết quả đạt được như vậy, cho dù có lớn đến đâu, cũng là “đương nhiên” thôi. Thậm chí, từ góc nhìn so sánh, những kết quả đó thực sự chưa tương xứng với sự ưu tiên đầu tư quốc gia cao nhất được dành cho nó trong suốt một thời gian dài.
Ưu tiên đầu tư cao nhất,vậy mà đây vẫn là “điểm tắc nghẽn phát triển” lớn nhất, đến mức được xác định là trọng tâm “đột phá chiến lược” cả chục năm nay mà nền kinh tế vẫn chưa thoát ra được. Tắc nghẽn giao thông, tắc nghẽn hạ tầng đô thị, gắn với những tắc nghẽn đó là một chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng thiếu tầm nhìn, mất cân đối và không tận dụng tốt các lợi thế quốc gia. Nói vậy để thấy một thực tế rằng sự phát triển của kết cấu hạ tầng còn xa mới đáp ứng kỳ vọng và đòi hỏi của thực tế”.
- Theo ông, kết cấu hạ tầng quan trọng như thế nào đối với phát triển kinh tế nói chung và đối với kinh tế Việt Nam hiện nay?
TS. Trần Đình Thiên: Tất cả những ai dính líu đến chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội đều hiểu sâu sắc rằng trong mọi thời đại, kết cấu hạ tầng luôn có vai trò quyết định phát triển ở mọi cấp độ. Hạ tầng, trực tiếp nhất là hạ tầng giao thông, là điều kiện nền tảng và tiên quyết của sự phát triển. Không phải ngầu nhiên mà ngay từ khi mới bước vào cải cách, Trung Quốc đã xác định phương châm “lộ thông, tài thông”, nghiã là đường thông thì kinh tế mới phát triển. Trung Quốc thực hiện phương châm này rất triệt để, phát triển đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, xây dựng các cảng biển và cảng hàng không lớn, hiện đạimạnh nhất thế giới. Đây là một trong những lý do căn bản giải thích kết quả tăng trưởng kinh tế “thần kỳ” mà Trung Quốc đạt được trong 40 năm qua.
Nếu ta thêm vào điều kiện nền tảng đơn lẻ này (ý nói hạ tầng giao thông) hạ tầng công nghiệp, hạ tầng đô thị, và bây giờ cả hạ tầng thông tin – viễn thông và hạ tầng số thì không có gì phải hoài nghi về vai trò quyết định sống còn của kết cấu hạ tầng trong sự phát triển kinh tế hiện đại.
Việt Nam, đương nhiên không phải là ngoại lệ. Nền kinh tế của ta có quá nhiều điểm tắc nghẽn chiến lược, đều thuộc loại “kết cấu hạ tầng” – giao thông, nhân lực, thể chế. Không biết tháo gỡ những điểm tắc nghẽn này một cách hiệu quả - như suốt 10 năm qua “đột phá” mà vẫn không thành công – thì nền kinh tế chắc chắn sẽ “tụt lại” phía sau, không có cơ may để nhập cuộc vào nền kinh tế toàn cầu hội nhập và quỹ đạo phát triển hiện đại.
Đảng ta, các vị Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã nói rõ điều này lâu rồi, nhiều lần rồi, không có gì là mới mẻ ở đây cả.
- Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, chẳng hạn xây dựng được một số tuyến cao tốc, một số cảng biển, cải thiện năng lực một số sân bay… Tuy nhiên, hiện nay tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng đang chững lại đáng kể. Ông có bình luận gì về việc này?
Như đã nói, thành tích đạt được tuy “đáng kể”, song cũng chỉ là “đương nhiên” thôi.
Nhưng đáng nói hơn là hiện nay, dường như tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng, cụ thể là hạ tầng giao thông, đang bị chậm lại. Các dự án lớn đang triển khai – như các tuyến đường sắt đô thị ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh – thì đang giữ kỷ lục về sự chậm trễ và “đội giá”. Các dự án lớn đặt ra, nhắm tới những cú “đột phá” tương lai - như sân bay Long Thành, đường Cao tốc xuyên Việt, Dự án Đường sắt tốc độ cao... – đang đứng trước nguy cơ không thể khởi công đúng tiến độ, hoặc chưa biết bao giờ mới được thực sự triển khai.
Lý do trước hết là thiếu vốn. Ngân sách Nhà nước đang gặp khó khăn trong khi nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng lại được mở rộng chưa từng thấy. Nhu cầu về vốn còn tăng theo kiểu cấp số nhân. Ngoài hạ tầng giao thông, lượng vốn cần đã cao gấp bội, đất nước còn cần nhiều loại hạ tầng khác – hạ tầng đô thị, với số lượng đô thị tăng, lại còn thêm yêu cầu phát triển “đẳng cấp” đô thị thông minh; đặc biệt là phải ưu tiên hàng đầu cho việc đầu tư phát triển “hạ tầng của hạ tầng”: hạ tầng thông tin - viễn thông và hạ tầng số.
Trong bối cảnh căng thẳng về vốn cho hệ thống kết cấu hạ tầng nói chung như vậy, vốn cho hạ tầng giao thông chắc chắn sẽ gặp khó khăn hơn nhiều so với giai đoạn vừa qua.
Điểm thứ hai là Nhà nước thiếu vốn nhưng cơ chế huy động vốn xã hội vào đầu tư phát triển hạ tầng nói chung, hạ tầng giao thông nói riêng lại chưa hoàn thiện, thậm chí nhiều điểm bất cập. Những xung đột liên quan đến các trạm BOT vừa qua còn cho thấy khía cạnh rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển hạ tầng giao thông ở nước ta hiện nay.
- Mô hình PPP nói chung (bao gồm BOT) đã và đang được áp dụng tại Việt Nam và đưa lại một số thành tựu bước đầu. Tuy nhiên, mô hình này cũng đang thể hiện những điểm bất cập. Vậy theo ông cần phải làm gì để phát huy tối đa hiệu quả của mô hình đầu tư này?
Cơ chế đầu tư PPP, với nhiều hình thức cụ thể, thật sự chưa được bảo đảm bằng một khung khổ pháp lý thật sự phù hợp. Giải tỏa, đền bù khó khăn, xung đột tại các trạm thu phí BOT có nguyên nhân từ trong Luật (Luật Đất đai) và các chính sách cụ thể (chính sách giải tỏa, chính sách đền bù, chính sách giá và phí – giá đất, phí giao thông, v.v.).
Tình hình này có căn nguyên ở vấn đề lợi ích – tình trạng xung đột lợi ích – ngắn hạn – dài hạn, tổng thể - cục bộ, giữa nhà nước, nhà đầu tư BOT, người kinh doanh vận tải và người dân.
Sự hình thành và củng cố lợi ích nhóm giai đoạn vừa qua gây ra những xung đột, làm “hỏng” cơ chế và bộ máy, gây cản trở phát triển mạnh mẽ.
Để giải quyết vấn đề này một cách triệt để và hiệu quả, theo tôi, không thể chỉ dừng lại trong phạm vi các vấn đề của PPP mà phải mở ra một tầm nhìn rộng hơn.
Trước hết, phải thiết kế lại chiến lược giao thông vận tải, quy hoạch lại hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông trên nguyên tắc i) phát huy lợi thế; ii) tầm nhìn xa. Việc quá ưu tiên tập trung phát triển đường bộ cao tốc (gắn với tính khả thi của việc thu phí) dẫn tới chỗ “bỏ quên” các lợi thế và nhu cầu phát triển các loại hình giao thông khác (đường sắt, đường thủy); đồng thời gây áp lực và củng cố tầm nhìn ngắn hạn và cục bộ.
Việc điều chỉnh lại cơ cấu chiến lược giao thông sẽ là điều kiện tiến quyết và căn bản để giải quyết các vấn đề lợi ích (nền tảng) trong phát triển hạ tầng giao thông.
Cùng với đó, phải thiết kế lại một số Luật cơ bản, đặc biệt là Luật Đất đai – xác định lại quyền tài sản đối với đất đai cho các chủ thể một cách rõ ràng. Tù mù về quyền tài sản thì tranh chấp – xung đột về quyền và lợi ích liên quan sẽ không tránh khỏi. Khi đó, khó có cơ sở để thiết kế hệ thống chính sách giá và cơ chế đền bù – giải tỏa một cách đúng đắn.
Cuối cùng là các quy định gắn trực tiếp với PPP – đấu thầu công khai, các nguyên tắc hợp đồng, các điều kiện ràng buộc và bảo đảm – theo cơ chế thị trường khách quan (không bị bóp méo).
Nói như vậy thật sự là dễ. Nhưng triển khai được trên thực tế là một cuộc đấu tranh lợi ích khó khăn, quyết liệt, thậm chí có tính “sinh tử”
- Ông đánh giá thế nào về việc các nhà đầu tư tư nhân đã và đang triển khai khá hiệu quả các dự án hạ tầng giao thông như trường hợp sân bay Vân Đồn gần đây?
Các nhà đầu tư tư nhân tham gia ngày càng nhiều và hiệu quả vào các dự án hạ tầng giao thông. Nhiều cầu lớn, nhiều đoạn đường cao tốc, một số cảng biển được xây dựng và nâng cấp bằng sức mạnh của các nhà đầu tư tư nhân. Nổi bật nhất trong số này có lẽ là trường hợp Tập đoàn Tư nhân SunGroup xây dựng thành công sân bay Vân Đồn – dựa vào vốn của mình, thời hạn thi công ngắn kỷ lục (hãy so sánh với việc nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất hay xây dựng sân bay Long Thành) và bảo đảm chất lượng cao. Cầu Cổ Chiên hay tuyến đường cao tốc 5B tuy không nổi bật bằng sân bay Vân Đồn nhưng cũng là những ví dụ minh họa tốt về việc huy động tư nhân tham gia xây dựng các công trình giao thông lớn, “tầm cỡ” (đòi hỏi chất lượng cao).
Những ví dụ đó hàm ý: nếu tin vào tư nhân, “giao” việc lớn cho họ thì có thể thu được kết quả phát triển tốt đẹp trên nhiều mặt. Có lẽ đó là thông điệp mà Đảng muốn gửi gắm khi đưa ra luận điểm “kinh tế tư nhân là động lực phát triển quan trọng”
- Theo ông cần làm gì để khơi thông dòng vốn trong và ngoài nước để phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam?
Tin vào kinh tế tư nhân, thực sự phục vụ họ, coi đây chính là sứ mệnh cao cả của “Nhà nước kiến tạo phát triển”. Đó là tất cả những gì cần làm để đạt được mục tiêu nói trên.
Còn những việc cụ thể phải làm thì có nhiều. Chúng đã được bàn thảo nhiều, quá nhiều. Phần trên tôi cũng đã có đề cập qua một số việc. Nhưng mấu chốt là hành động, là rút thật ngắn con đường “từ lời nói đến việc làm”, như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhiều lần đề cập.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Đà tăng lãi suất thời gian qua làm dấy lên những lo lắng về rủi ro đảo chiều chính sách tiền tệ, cũng như quan ngại về tác động tới các hoạt động đầu tư, kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực bất động sản. Để mở rộng góc nhìn về vấn đề nóng bỏng và gây nhiều tranh luận này, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Huy – CEO Khoa Tài chính ngân hàng - Đại học Nguyễn Trãi:
(VNF) - Theo GS. TS Hoàng Văn Cường, để doanh nghiệp nhà nước ở vị thế dẫn dắt nền kinh tế đúng với tinh thần của Nghị quyết 79, nhà nước cần làm tốt vai trò “phân định sân chơi” ngay từ đầu, tránh tiềm ẩn nguy cơ xung đột.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”