Hải Phòng dự thu hàng trăm triệu USD từ bán chứng chỉ carbon
(VNF) - Hải Phòng có thể thu về 120-250 triệu USD/ năm,với giá tín chỉ carbon trung bình 40 - 50 USD/tấn CO2 trên thị trường quốc tế.
Theo nghiên cứu của nhóm chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật cho Cục Biến đổi khí hậu thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam có thể thu khoảng 1,9 tỷ USD mỗi năm từ bán tín chỉ carbon trên thị trường quốc tế, trong kịch bản giá cao 47 USD mỗi tín chỉ.
Với kịch bản giá thấp 20,5 USD và mức trung bình 33,8 USD, nguồn thu tương ứng đạt khoảng 600 triệu USD và 1,2 tỷ USD mỗi năm.
Theo các chuyên gia, tín chỉ carbon được kỳ vọng đóng góp khoảng 0,3 phần trăm GDP mỗi năm, đồng thời hỗ trợ tiến trình chuyển đổi xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Báo cáo thường niên của World Bank cho thấy thị trường carbon toàn cầu tăng trưởng nhanh, số hệ thống giao dịch phát thải tăng từ 25 lên 37 giai đoạn 2020 đến 2025, kiểm soát khoảng 23 phần trăm lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Doanh thu toàn thị trường cũng tăng từ 25 tỷ USD năm 2020 lên hơn 69 tỷ USD năm 2024.

Tiềm năng thu hàng tỷ USD mỗi năm của Việt Nam đến từ khả năng sản xuất tín chỉ carbon trong các lĩnh vực giảm phát thải, đặc biệt là bảo vệ rừng, nông nghiệp bền vững và năng lượng tái tạo.
Hiện Việt Nam có khoảng 14,79 triệu hecta rừng, tỷ lệ che phủ trên 42%. Với quy mô này, ngành lâm nghiệp ước tính có thể cung cấp khoảng 40 triệu tín chỉ carbon mỗi năm cho thị trường quốc tế.
Song song đó, nông nghiệp cũng là nguồn tạo tín chỉ lớn từ lúa nước và các cây công nghiệp dài ngày như cao su, điều, cà phê, dừa. Tổng tiềm năng toàn ngành được ước khoảng 57 triệu tín chỉ mỗi năm.
Sự kết hợp giữa tài nguyên rừng và nền nông nghiệp rộng lớn tạo nền móng quan trọng để Việt Nam phát triển thị trường carbon, vừa giảm phát thải vừa mở rộng không gian tăng trưởng kinh tế xanh.
Để hiện thực hóa hoạt động mua bán tín chỉ, sàn giao dịch carbon được xem là hạ tầng trung tâm, cho phép doanh nghiệp và tổ chức trao đổi tín chỉ minh bạch, đồng thời hỗ trợ tuân thủ quy định môi trường.
Theo Bộ Công Thương, Việt Nam dự kiến vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon tự nguyện từ năm 2028, tiến tới triển khai đầy đủ hệ thống ETS trong nước với hơn 200 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực nhiệt điện, xi măng và sắt thép.
Song song với thị trường quốc tế, Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý cho sàn giao dịch carbon trong nước. Theo Nghị định 29 của Chính phủ ban hành, hai loại hàng hóa được phép giao dịch gồm hạn ngạch khí nhà kính và tín chỉ carbon. Đối tượng tham gia chủ yếu là các cơ sở phát thải phải kiểm kê hằng năm như nhà máy nhiệt điện, sắt thép, xi măng.
Cơ chế giao dịch được thiết kế tương tự thị trường chứng khoán, song có những đặc thù riêng. Doanh nghiệp muốn mua bán phải mở tài khoản tại công ty chứng khoán, tách biệt với tài khoản tài chính thông thường. Kết quả giao dịch được Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội công bố vào cuối ngày.
Khác với chứng khoán cơ sở hay phái sinh, việc thanh toán và chuyển giao tín chỉ carbon được thực hiện tức thời theo từng giao dịch, thay vì áp dụng cơ chế bù trừ trung tâm. Hạn ngạch được hiểu là lượng khí nhà kính quy đổi CO2 mà cơ sở được phép phát thải trong một năm. Trường hợp phát thải vượt mức phân bổ, doanh nghiệp buộc phải mua phần dôi dư từ các đơn vị khác trên sàn.
Bên cạnh cơ hội kinh tế, các chuyên gia cũng lưu ý rủi ro về cân đối nguồn tín chỉ giữa thị trường quốc tế và nhu cầu trong nước.
Bà Nguyễn Hồng Loan, Giám đốc Công ty TNHH Kiến tạo Khí hậu xanh, trưởng nhóm tư vấn, cho biết cơ chế “điều chỉnh tương ứng” theo Thỏa thuận Khí hậu Paris yêu cầu quốc gia bán tín chỉ phải cộng lại lượng phát thải tương ứng, nhằm tránh tính trùng lặp. Nếu bán quá mức, Việt Nam có thể gặp khó trong việc hoàn thành cam kết giảm phát thải quốc gia.
TS Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, dẫn ví dụ các hãng hàng không như Vietnam Airlines và Vietjet Air đang có nhu cầu lớn về tín chỉ carbon. Riêng ngành hàng không được dự báo cần khoảng 2,3 triệu tín chỉ từ năm tới. Nếu nguồn cung trong nước không đủ, doanh nghiệp buộc phải mua tín chỉ nước ngoài với giá cao hơn.
Nhóm chuyên gia đề xuất giới hạn tỷ lệ bán tín chỉ ra quốc tế ở mức 50% đến năm 2030, sau đó có thể nâng lên 70% khi thị trường trong nước đã vận hành ổn định.
Mức giá tham chiếu hiện được xây dựng dựa trên giao dịch tại các thị trường đối tác như Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Ở chiều ngược lại, ETS trong nước được kỳ vọng giúp doanh nghiệp giảm mạnh chi phí tuân thủ. Theo tính toán, nếu được phép dùng tín chỉ bù trừ tới 30% hạn ngạch phát thải, các doanh nghiệp nhiệt điện, xi măng, sắt thép có thể giảm chi phí từ hơn 420 triệu USD xuống còn gần 70 triệu USD, tạo thêm dư địa đầu tư công nghệ sạch.
Các chuyên gia cũng kiến nghị lộ trình giảm dần tỷ lệ tín chỉ bù trừ xuống 20 phần trăm sau năm 2028 và 10 phần trăm từ năm 2030, nhằm thúc đẩy giảm phát thải trực tiếp trong sản xuất.
Với kịch bản giá cao, nguồn thu 1,9 tỷ USD mỗi năm từ tín chỉ carbon cho thấy dư địa lớn của Việt Nam trong kinh tế xanh. Khi được quản trị chặt chẽ và gắn với mục tiêu khí hậu dài hạn, thị trường carbon có thể trở thành động lực tăng trưởng mới, giúp Việt Nam vừa hội nhập sâu hơn vào kinh tế toàn cầu, vừa tiến gần hơn tới cam kết phát thải ròng bằng 0.
(VNF) - Hải Phòng có thể thu về 120-250 triệu USD/ năm,với giá tín chỉ carbon trung bình 40 - 50 USD/tấn CO2 trên thị trường quốc tế.
(VNF) - Thay vì tập trung tạo ra lượng lớn tín chỉ carbon giá rẻ, Việt Nam nhấn mạnh việc phát triển tín chỉ chất lượng cao nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.
(VNF) - Đề xuất mỗi tỉnh, thành phố chỉ có duy nhất một đơn vị được cho phép hợp tác liên kết với quỹ đầu tư phát triển địa phương thử nghiệm vận hành hoạt động sàn giao dịch trái phiếu xanh, tín chỉ carbon tự nguyện.
(VNF) - Thay vì phát triển dàn trải nhiều lĩnh vực, Đà Nẵng nên lựa chọn một hướng đi có lợi thế cạnh tranh rõ nét để tạo dấu ấn trên bản đồ tài chính xanh. Theo GS. Nguyễn Hữu Ninh, thị trường carbon và tín chỉ carbon có thể trở thành "điểm nhấn" chiến lược, giúp thành phố thu hút dòng vốn xanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao vị thế trong nền kinh tế carbon thấp.
(VNF) - Các lựa chọn tài chính cá nhân, từ vay thế chấp đến gửi tiết kiệm, đều có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững nếu tài chính bán lẻ xanh được triển khai trên diện rộng.
(VNF) - Việt Nam hiện nay đã có nguồn dữ liệu phong phú phục vụ quá trình chuyển đổi xanh. Thách thức hiện nay là làm thế nào để kết nối, chia sẻ và chuyển hóa hiệu quả các nguồn dữ liệu này để phục vụ hoạch định chính sách.
(VNF) - Việc đưa Sàn giao dịch carbon vào hoạt động đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, mở ra công cụ mới giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí giảm phát thải và thực hiện các cam kết về khí hậu.
(VNF) - Theo Tiến sĩ Mirjam Staub-Bisang, Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn quốc tế với tăng trưởng kinh tế cao, FDI kỷ lục và triển vọng được nâng hạng thị trường. Tuy nhiên, nghịch lý là nguồn vốn dành cho chuyển đổi xanh và phát triển hạ tầng bền vững vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi những cải cách mạnh mẽ về thể chế và thị trường vốn.
(VNF) - Theo ông Kevin Bruce Iwanaga, để tín chỉ carbon của Việt Nam có thể giao dịch quốc tế, điều quan trọng nhất là phải xác định rõ bản chất pháp lý của loại tài sản này, từ đó xây dựng hành lang pháp lý phù hợp về quyền sở hữu, thuế, dòng vốn và khả năng token hóa.
(VNF) - Dù dư nợ tín dụng xanh tại Việt Nam đã vượt 780.000 tỷ đồng vào cuối năm 2025 nhưng quy mô này vẫn chưa tương xứng với nhu cầu chuyển đổi xanh của nền kinh tế. Những rào cản về pháp lý, tiêu chí phân loại dự án xanh, dữ liệu môi trường và khả năng tiếp cận vốn đang khiến dòng tín dụng xanh chưa thể phát huy hết vai trò thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
(VNF) - Theo báo cáo của Bộ Công Thương, sau 1 tháng triển khai sử dụng xăng sinh học, các chỉ số PM2.5, PM10 và CO tại Hà Nội, TP. HCM ghi nhận xu hướng giảm rõ rệt.
(VNF) - Dù chuyển đổi năng lượng đang trở thành xu hướng tất yếu, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn gặp khó khi triển khai do vướng bài toán vốn đầu tư ban đầu.