Đánh thức những miền đất: Ra đi là để trở về
(VNF) - Tôi đã từng đi qua bao nhiêu con đường, đã từng sống bao nhiêu cuộc đời khác nhau, nhưng Sơn La, với tất cả những gì thân thuộc, vẫn mãi là một phần không thể thiếu trong cuộc đời tôi.
- Đánh thức những miền đất: Hà Giang no ấm 24/07/2025 09:55
Không biết có phải do rượu - loại rượu trong vắt, được cất từ gạo "xéng cù" – của nhà hàng "Tuân Gù", hay tại mấy ly trà san tuyết thưởng thức tại điểm du lịch Làng Chè ở thị trấn Nông trường Mộc Châu buổi chiều, mà cả đêm tôi không sao ngủ được. Tôi trằn trọc trở mình, hết đứng lại ngồi, ngắm trời đêm thảo nguyên qua khung cửa sổ tầng 5 của khách sạn Mường Thanh. Tiết thu se lạnh, sương mù như những tấm khăn voan trắng muốt, khoác hờ quanh những sườn núi giăng khắp thảo nguyên, khiến cảnh vật nơi đây trở nên huyền ảo, lung linh đến mê mẩn lòng người.
Đã khuya rồi, nhưng những dãy đèn đường, những tấm biển quảng cáo của các nhà hàng, khách sạn, các cơ sở dịch vụ quanh thị trấn vẫn sáng lung linh ngay bên sườn núi, giống như những ánh sao nhấp nháy giữa trời đêm thơ mộng. Mộc Châu đẹp quá, lung linh quá, thật xứng đáng là "Điểm đến thiên nhiên hàng đầu thế giới".
Những dấu tích của đói nghèo và lạc hậu xưa kia không còn thấy ở bất cứ nơi nào trên mảnh đất này. Khung cảnh yên bình của Mộc Châu đêm nay đưa tôi trở về ký ức, về với những kỷ niệm xưa cũ của cuộc đời mình...

Tây tiến
Tôi sinh ra tại một làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Năm 1964, khi tôi bắt đầu biết chạy theo lũ bạn ra đình làng học lớp vỡ lòng, thì cha tôi về đón mẹ con tôi lên Sơn La.
Trong ký ức của mình, tôi vẫn nhớ như in hình ảnh mẹ tôi mặc chiếc áo nâu sòng bạc phếch, chiếc quần lá tọa rộng thùng thình, thắt chiếc khăn mỏ quạ, với đôi chân trần, vung vẩy đôi quang gánh, một đầu là những mớ tay nải buộc bằng những chiếc khăn vuông đen, đầu bên kia là mấy chiếc mẹt, chiếc sàng và mấy bọc cá khô. Mẹ tất tả gánh gồng đi trước, cha tôi khoác ba lô theo sau, dắt tôi bước trên con đường làng, ra đường 5 đón xe đi Hà Nội. Làng quê, với những bức tường vôi cũ kỹ, bên lũy tre thân thuộc, những cánh đồng thẳng cánh cò bay, những con đường lát gạch nghiêng quen thuộc lùi dần về phía sau...
Đó là lần đầu tiên trong đời tôi rời khỏi nơi chôn rau cắt rốn của mình để lên đường "Tây tiến".
Phải mãi sau này, khi lớn lên, tôi mới hiểu rằng sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nghe theo tiếng gọi của Đảng, hàng vạn đảng viên, đoàn viên thanh niên từ khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ được động viên rời quê hương, lên "khai hoang" ở các tỉnh Tây Bắc, góp phần bảo vệ và phát triển kinh tế miền núi. Năm 1960, cha tôi tròn 30 tuổi, là đảng viên trẻ, nên ông cùng hàng ngàn thanh niên của tỉnh Hưng Yên lên Sơn La đợt đầu tiên. Năm 1964, ông về quê đón mẹ tôi và tôi lên cùng.
Con đường từ Hà Nội lên Sơn La ngày ấy vô cùng gian nan và trắc trở. Hôm nay, đi trên Quốc lộ 6, với mặt đường asphal đen bóng, những quanh co, đèo dốc không nhiều, lại thêm những cọc tiêu phản quang rực rỡ, xe nhiều và rất tốt, nên ai chưa từng trải qua hành trình của những chuyến xe ngược Tây Bắc những năm 60, 70 của thế kỷ trước, không thể hiểu được nỗi gian truân mà thế hệ cha mẹ tôi và chúng tôi đã phải trải qua.
Thời đó, mỗi ngày, từ Hà Nội, chỉ có hai chiếc xe ca chạy dầu - loại xe “Ba Đình” hoặc “Hải Âu” có 36 hoặc 42 chỗ ngồi cũ rích của Xí nghiệp xe khách 14 xuất bến ngược lên Sơn La và hai chiếc khác xuất phát từ Sơn La xuôi Hà Nội.
Hành khách thì đông, người về thăm quê ngược lên; cán bộ, bộ đội đi công tác; người ốm đau về thủ đô điều trị hay những tốp thợ mộc, thợ xẻ lên miền núi kiếm việc làm; những bà buôn đường dài ngược miền núi làm ăn...
Mỗi ngày có hàng trăm con người từ khắp các tỉnh, đông nhất là các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, dồn về bến xe Kim Mã để xếp hàng. Họ chen chúc, xô đẩy, giành giật nhau những chiếc vé xe ca để lên Sơn La. Cũng vì vậy, hầu như ai cũng phải ăn chực nằm chờ ở bến xe vài ba ngày, thậm chí cả tuần mới mua được vé.
Vào mùa mưa, đường tắc hoặc nước sông Đà lên cao, chảy xiết, hai chiếc phà qua Suối Rút và Chợ Bờ không thể sang sông, thì có khi cả tháng cũng không thể về được. Giá vé ngày ấy là 12 đồng 7 hào, nhưng để có thể có vé, nhiều người phải chấp nhận bỏ ra tới 40 đến 50 đồng - tương đương với mức lương của một cán bộ tầm trung thời ấy - để mua một chiếc vé “chui” từ những người “phe vé”. Mua được vé rồi, lại phải ngất ngưởng, lắc lư, nghiêng ngả suốt hai ngày trời mới về đến nhà.
Con đường từ Hà Nội lên Sơn La ngày ấy dài 320 km, nhỏ như một sợi chỉ, rải đá cấp phối, lượn quanh co khúc khuỷu, hết xuống dốc lại lên đèo. Một bên là ta luy cao dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm, cây cối che kín bên đường, lau sậy gạt roàn roạt vào kính lái...có những đoạn cỏ mọc xanh rì giữa hai vệt bánh xe.
Mấy chục con người ngồi chật ních trên một chiếc xe chạy bằng diezen, không quạt, không điều hòa, chỉ có khói dầu và tiếng động cơ rít cành cạch như trực thăng cất cánh. Số phận phó mặc cho các bác “tài”. Mùi mồ hôi, mùi cá khô, mùi mắm tôm...tất cả trộn vào nhau, tạo thành một thứ hỗn hợp không dễ diễn đạt thành lời.
Những con dốc, con đèo nổi tiếng như đèo Thung Khe, đèo Hua Tạt, dốc Cun, dốc Chiềng Đông là nỗi khiếp đảm đối với hành khách ngày ấy. Trên con đường này đã xảy ra biết bao nhiêu vụ tai nạn kinh hoàng. Chuyện lật xe, làm mấy chục người thương vong trong một vụ tai nạn không phải là chuyện hiếm. Vì vậy, Sơn La trở thành nơi "đi dễ, khó về". Ai đã lên Sơn La rồi thì không muốn về quê nữa và ai đã về quê thì rất sợ phải trở lại Sơn La.
Chưa hết. Do tình hình đường xá, xe cộ như vậy, nên để đảm bảo an toàn cho hành khách, nhà xe quy định bất luận thế nào thì xe lên hay xe xuống, tất cả đều phải dừng lại Mộc Châu hoặc Km 22, ngủ qua đêm rồi sáng hôm sau mới được đi tiếp. Huyện lỵ Mộc Châu ngày ấy hầu như chẳng có gì ngoài một cái bến xe bé như cái kẹo.
Mỗi ngày vài cái xe ca, đến rồi lại đi. Một cái nhà chờ buồn như chấu cắn. Cạnh đó là một cái nhà trọ “quốc doanh” gồm mấy cái nhà được quây bằng gỗ vây quanh một chiếc bể dùng chung, đầy rêu xanh và nòng nọc bơi như cá trong chậu. Ngoài mặt đường, chềnh ềnh một ngôi nhà gỗ xiêu vẹo, treo tấm biển “Cửa hàng giải khát quốc doanh” hầu như chỉ bán một thứ nước có tên là “sirô” màu hồng hồng như nước rau rền đỏ luộc và mấy cô mậu dịch viên lúc nào mặt cũng càu cạu như đang dỗi hờn ai đó.
Ngay góc ngã ba đường vào huyện cũ, có một bãi phim được rào xung quanh bằng những chiếc cọc gỗ và dây thép gai. Phía trên quầy bán vé treo một chiếc bảng đen, ghi tên bộ phim sẽ chiếu trong tối hôm đó...

Những năm sau này, khi tôi lớn lên, đi học, hoặc phải về nhà trong những lần nghỉ phép, nghỉ tết, thì những đêm ngủ lại Mộc Châu là những đêm kinh hoàng không dễ gì quên được. Mùi chăn đệm ẩm ướt, mùi măng chua, mùi rượu, mùi mồ hôi người…tất cả quyện vào nhau giữa màn đêm đen kịt hành hạ con người.
Thêm nữa, muỗi và rệp là những loại ký sinh sẵn nhất ở những phòng trọ Mộc Châu ngày ấy. Trong cái lạnh đến tê tái giữa thảo nguyên, những con người, bất kể quen hay lạ, từ khắp nơi đến đây, ngồi quây quần quanh những đống lửa lớn, dựa vào nhau, ngủ gà ngủ gật qua đêm.
Nơi gia đình tôi đến "lập nghiệp" là một vùng đất mới khai hoang ở huyện Mai Sơn. Xã viên hợp tác xã là hàng trăm hộ gia đình từ Hưng Yên lên cùng đợt với cha tôi. Những người nông dân đồng bằng Bắc bộ, vốn chỉ quen với be bờ, tát nước, gieo mạ, cấy gặt…một năm hai vụ, giờ phải bắt tay vào học cách làm ăn ở vùng đất mới, đó là phát nương, làm rẫy, trồng ngô, khoai, sắn, rong giềng trên những mảnh nương giữa lưng chừng núi...Những công việc hoàn toàn xa lạ với cách làm truyền thống cộng với đói, khát ở nơi rừng sâu núi thẳm, khiến nhiều người không chịu nổi, họ tìm mọi cách để trốn về quê…
Và rồi tôi đã lớn lên từ đó. Giữa những cánh rừng, mảnh nương ấy, bọn trẻ con từ miền xuôi lên hòa nhập với lũ trẻ trong bản, cùng chơi khăng, chơi đáo, đánh cù, đẩy gậy, cùng lên rừng lấy củi, bắt chim, lấy măng, đào mài…bọn tôi dạy lũ trẻ trong bản tiếng Kinh, còn chúng dạy chúng tôi tiếng Thái…
Mảnh đất của tuổi thơ
Cách đây hơn ba mươi năm, khi biết tôi có ý định chuyển từ Vĩnh Phúc về Sơn La công tác, ai cũng ngăn cản, bởi việc "chuyển vùng" từ miền núi về xuôi là chuyện bình thường, chứ phải cậy cục xin chuyển từ miền xuôi, nơi đang có công ăn việc làm ổn định, để lên một tỉnh miền núi xa xôi cách trở, nơi nổi tiếng bởi câu ngạn ngữ "nước Sơn La, ma Hòa Bình" là chuyện ngược đời, chẳng mấy ai làm thế.
Nhưng tôi đã quyết định như vậy, bởi hơn ai hết, tôi hiểu mảnh đất này, nơi tôi đã lớn lên, trưởng thành và ra đi từ đó. Nơi đây có cha mẹ tôi, anh em tôi, vợ con tôi, bạn bè tôi và Sơn La đã trở thành quê hương thứ hai của tôi từ thuở ấu thơ. Mười ba năm xa Sơn La, nhưng những kỷ niệm của một thời thơ ấu và cuộc sống tuy vất vả, nhưng thấm đẫm tình người nơi đây đã kéo tôi trở về.
Quyết định như vậy, nhưng khi ra Kim Mã để mua vé xe về Sơn La, tôi thực sự hoang mang, không biết sự lựa chọn của mình có đúng không, bởi con đường về Sơn La vẫn vậy, vẫn là những chiếc xe ca cũ kỹ và ọp ẹp ngày nào. Mộc Châu vẫn chỉ là một huyện lỵ nghèo nàn và lạnh lẽo, cuộc sống của người dân Sơn La ngày ấy còn rất kham khổ…
Và rồi, cùng với thời gian, Sơn La thay da đổi thịt. Con đường về Sơn La giờ đây đã khác rất nhiều. Những chiếc xe ca cũ kỹ ngày nào đã nhường chỗ cho những chiếc xe khách hiện đại, tiện nghi hơn. Quốc lộ 6, với mặt đường bê tông phẳng lì, không còn những con đèo dốc khúc khuỷu hiểm trở như trước, mà thay vào đó là những cây cầu mới, những đoạn đường mở rộng dễ dàng cho việc di chuyển.
Những cánh đồng lúa, những đồi chè xanh mướt, những bản làng xinh xắn đã thay thế cho cảnh vật khô cằn, heo hút ngày xưa. Mộc Châu không còn là một huyện lỵ đơn sơ, nghèo nàn, mà đã trở thành một thị xã với dân cư đông đúc, là những phố thị đông vui, trở thành điểm du lịch nổi tiếng, thu hút du khách khắp nơi về đây hội tụ…

Nếu trước đây, Sơn La nổi tiếng với chè và ngô thì ngày nay, vùng đất này đã thay đổi rất nhiều. Những đồi chè san tuyết xanh mướt ở Mộc Châu, những vườn mận chín đỏ ở thung lũng Nà Ka, những nông trại bò sữa rộng lớn đã trở thành biểu tượng của vùng đất này.
Đặc biệt, Sơn La còn là vựa hoa quả của miền Bắc với các loại trái cây nổi tiếng như bơ Mộc Châu, xoài Yên Châu, nhãn Sông Mã và đặc biệt là dâu tây – một loại quả vốn chỉ phổ biến ở Đà Lạt nay đã trở thành đặc sản của vùng cao Tây Bắc.Trở lại Sơn La lần này, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước sự thay đổi của mảnh đất này.
Từ một tỉnh miền núi xa xôi, đời sống khó khăn, Sơn La giờ đây đã có một diện mạo mới, hiện đại và phát triển hơn bao giờ hết. Các thị trấn, thị xã nay đã trở thành những đô thị sầm uất, với những khu phố thương mại, những khu du lịch sinh thái và những trung tâm dịch vụ mọc lên khắp nơi. Trở lại Sơn La là tôi đang trở về với chính tôi, với những giá trị cũ kỹ trong tâm hồn mà thời gian không thể làm mờ đi được; trở về với tất cả những gì thân thuộc trong cuộc đời tôi.
Nhịp sống nơi đây đã thay đổi đáng kể. Người dân không còn chỉ sống dựa vào nông nghiệp đơn thuần mà đã biết kết hợp trồng trọt với du lịch sinh thái. Những homestay xinh xắn, những trang trại mở cửa đón khách tham quan, giúp cải thiện thu nhập cho bà con. Tuy vậy, dù cuộc sống hiện đại hơn, tình người Sơn La vẫn vẹn nguyên như thuở nào. Đó là sự nồng hậu của đồng bào dân tộc Thái, Mông, Dao khi đón khách, là những bữa cơm đậm đà bản sắc với rượu ngô, thịt trâu gác bếp, pa pỉnh tộp, hay lợn cắp nách thơm lừng.
Sơn La không chỉ có cảnh đẹp mà còn là một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn nhất miền Bắc. Mộc Châu với những đồi chè xanh ngát, những cánh đồng hoa cải, hoa mận bạt ngàn thu hút hàng vạn du khách mỗi năm. Đỉnh Tà Xùa - thiên đường săn mây, nơi những biển mây bồng bềnh giữa núi rừng khiến lòng người mê đắm.
Hồ Chiềng Khoi trong xanh như ngọc, những bản làng cổ kính của người Thái, những thửa ruộng bậc thang vàng óng vào mùa lúa chín đều góp phần làm nên sức hút của Sơn La. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến công trình thủy điện Sơn La - biểu tượng của sự phát triển công nghiệp miền núi, mang lại nguồn điện lớn cho cả nước và là điểm tham quan hấp dẫn. Bên cạnh đó, những địa danh lịch sử như Nhà tù Sơn La, di tích Tây Tiến cũng là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử hào hùng của dân tộc.
Nhưng chính sự thay đổi ấy khiến tôi có chút bâng khuâng. Trong tôi, Sơn La vẫn là một miền ký ức đầy khắc khoải, là những buổi sáng lạnh se sắt, những chiều mưa dầm gió rét, những đêm đen ngun ngút giữa núi rừng.
Những mảnh đất tôi đã lớn lên, những ngôi nhà đơn sơ của người dân, những đống lửa bập bùng sáng rực trong đêm tối, tất cả giờ đây chỉ còn lại trong ký ức. Và dù cho cuộc sống ở đây đã phát triển, đất đai đã trù phú, đường xá đã thuận tiện, tôi vẫn cảm nhận được một thứ gì đó không còn như xưa. Có lẽ là sự vội vã của thời gian, sự đổi thay của một xã hội đang phát triển từng ngày, nên cuộc sống giản dị, mộc mạc của một thời đã qua thì không thể nào quay lại.
Dẫu biết rằng sự phát triển là tất yếu, nhưng đứng giữa một Sơn La đổi thay, tôi vẫn không khỏi bồi hồi khi nhớ về những ngày xưa cũ. Sơn La hôm nay đẹp hơn, giàu có hơn, nhưng trong lòng tôi, nó vẫn là mảnh đất của những tháng ngày tuổi thơ, của những đêm đông bên bếp lửa, của những con đường quanh co phủ đầy sương sớm. Tôi đã từng đi qua bao nhiêu con đường, đã từng sống bao nhiêu cuộc đời khác nhau, nhưng Sơn La, với tất cả những gì thân thuộc, vẫn mãi là một phần không thể thiếu trong cuộc đời tôi.
Và tôi hiểu rằng, ra đi là để trở về – trở về nơi tôi đã lớn lên, nơi đã nuôi dưỡng những giấc mơ của tôi, nơi tôi biết rằng dù có đi đâu, bao xa, thì cuối cùng, lòng mình vẫn chỉ hướng về đây - về với Sơn La.
Phú Thọ: Điểm tên 6 dự án có nguy cơ thất thoát, lãng phí vào diện thanh tra
- ‘Luồng gió mới’ ở miền Tây Quảng Trị 30/06/2025 10:30
- Đánh thức những miền đất: Biên cương, những nẻo đường xanh ấy 24/07/2025 04:49
- Đánh thức những miền đất: Người biến đồng đất bấp bênh thành ‘vàng’ 23/07/2025 04:12
Khảo sát dự án Metropoli5 của Vietradico sau nhiều năm quây tôn
(VNF) - Dự án Metropoli5 của Vietradico tại Nam An Khánh mới đây đã bắt đầu chuyển động sau nhiều năm quây tôn.






