Analytic

Diễn đàn VNF

'Nên bỏ trần lãi suất khi đã kiểm soát được lạm phát'

Bình Anh (tổng hợp) - 23:46, 06/10/2016

(VNF) - Chuyên gia ngân hàng nói lạm phát ở mức thấp là điều kiện thuận lợi để bỏ trần lãi suất mặc dù tại thời điểm nào đó có thể dùng biện pháp, mệnh lệnh hành chính.

'Nên bỏ trần lãi suất khi đã kiểm soát được lạm phát'

Chủ tịch Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia vừa có lưu ý các bộ ngành nghiên cứu bỏ trần lãi suất huy động 6 tháng. Xung quanh vấn đề này, chuyên gia ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu đã bày tỏ quan điểm ủng hộ. Ông nói:

"Tôi rất ủng hộ đề xuất này. Thực tế, cách đây rất nhiều năm, tôi đã khuyến nghị về việc cần phải thả nổi lãi suất, đặc biệt khi lạm phát năm ngoái ở mức thấp, là điều kiện thuận lợi để bỏ trần lãi suất nhưng chúng ta vẫn chưa tiến hành. Tại một thời điểm nào đó có thể dùng biện pháp, mệnh lệnh hành chính nhưng khi lạm phát đã được kiểm soát thì nên bỏ trần.

Nếu đến bây giờ mới tính toán đến việc bỏ trần lãi suất là hơi muộn. Bởi trong vài năm qua, việc áp dụng trần lãi suất khiến một vài ngân hàng tìm cách lách trần, chi ngoài vượt quy định nhằm “chăm sóc khách hàng”, dẫn tới những vụ kiện đình đám vừa qua trong ngành ngân hàng. Tuy nhiên, muộn còn hơn không. Đây là thời điểm thuận lợi để chúng ta xem xét nghiêm túc hơn để thực hiện sớm.

Vậy đâu là lý do nên bỏ trần lãi suất? Thứ nhất, lạm phát đã được kiểm soát tốt. Trong thời kỳ lạm phát cao, ngân hàng trung ương thường bị đẩy vào tình thế phải sử dụng triệt để lãi suất - một trong những công cụ trọng yếu của chính sách tiền tệ để kềm chế lạm phát. Lãi suất cao sẽ hạn chế tín dụng và giới hạn cung tiền chảy vào lưu thông. Ngược lại, lạm phát thấp sẽ tạo điều kiện cơ bản cho lãi suất huy động giảm.

Trên cơ sở lãi suất huy động thường cao hơn tỷ lệ lạm phát khoảng 2% và lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động khoảng 2-3%, tỷ lệ lạm phát là điều kiện cần thiết để giảm lãi suất huy động và cho vay. Nhưng để thị trường tài chính ổn định, lãi suất không những phải thấp mà phải là lãi suất do cung cầu ấn định, không thể do ý chí và mệnh lệnh hành chính của cơ quan quản lý chính sách tiền tệ. Đồng nghĩa là lãi suất phải được thả nổi, cả huy động và cho vay.

Trường hợp điển hình trên thế giới về việc điều hành chính sách lãi suất theo kiểu này là Hoa Kỳ. Cục Dự Trữ Liên bang Mỹ (Fed) điều hành lãi suất thị trường một cách gián tiếp: Hội đồng thị trường mở (FOMC) mỗi năm họp tám lần và tại mỗi phiên họp, Hội đồng định lãi suất mục tiêu cho vốn tín dụng trên thị trường liên ngân hàng, gọi là Fed Funds Overnight.

Sau đó Fed thông qua những hoạt động mua bán trên thị trường mở (Open Market) và những công cụ khác của chính sách tiền tệ như lãi suất chiết khấu (discount rates) và dự trữ bắt buộc để hướng lãi suất Fed Funds Overnight xoay quanh lãi suất mục tiêu.

Trên thị trường tài chính, các định chế tài chính sẽ đưa ra những mức lãi suất huy động và cho vay cạnh tranh nhưng dựa trên cơ sở của Fed Funds Interest Rates. Với cách thức này, Fed tìm cách điều chỉnh lãi suất trên thị trường một cách gián tiếp qua những công cụ của chính sách tiền tệ chứ không can thiệp vào thị trường lãi suất qua mệnh lệnh hành chính như áp đặt trần lãi suất.

Tại Việt Nam, với lạm phát trong vòng kiểm soát và NHNN có đủ công cụ để điều chỉnh lãi suất mục tiêu một cách gián tiếp, đây là thời điểm thuận lợi để áp dụng lãi suất thả nổi.

Thứ hai, từ nhiều năm nay, chúng ta áp dụng lãi suất trần cho huy động vốn, với mục đích khống chế các ngân hàng huy động vốn với lãi suất cao và từ đó đẩy lãi suất cho vay lên cao, ảnh hưởng tới việc hấp thụ vốn vay của các thành phần kinh tế và cuối cùng gây bất ổn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế là nhiều ngân hàng đã tìm cách vượt trần bằng nhiều cách, bao gồm cả việc chi cho khách hàng gửi tiền ngoài sổ sách và những chương trình khuyến mại tốn phí.

Trong tình huống này, các ngân hàng tạo ra lợi thế cạnh tranh không phải bằng lãi suất được niêm yết chính thức và chất lượng phục vụ khách hàng, mà một số đã tạo ra lợi thế cạnh tranh từ việc “đi đêm” với khách hàng, triệt tiêu cạnh tranh lành mạnh và minh bạch.

Cho đến khi nào thị trường còn phải đối diện với sự bất bình đẳng và cạnh tranh không lành mạnh, chừng đó ngành ngân hàng Việt Nam chưa thực sự đi vào một nền kinh tế thị trường trong suốt và lành mạnh, với những thông tin minh bạch về giá cả (lãi suất). Có thể nói, trong bối cảnh hiện nay, mệnh lệnh hành chính thay vì ổn định thị trường, đã làm méo mó thị trường và cần phải gỡ bỏ".