Chậm chân trên thị trường carbon, nguy cơ bị loại khỏi nhiều chuỗi cung ứng
(VNF) - Theo TS Lê Hải Hưng, nếu không chuẩn bị sớm để tham gia vào thị trường carbon, Việt Nam sẽ mất nhiều cơ hội. Trước tiên là cơ hội xuất khẩu hàng hoá vào các quốc gia đã áp dụng Cơ chế điều chỉnh carbon qua biên giới (CBAM). Chậm chân hơn nữa, Việt Nam có thể bị loại khỏi chuỗi cung ứng xuất khẩu cho thị trường có quy định này”, ông Hưng cảnh báo.
Mục tiêu Net zero bị thách thưc
Kể từ sau cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net-Zero) vào năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ công bố tại Hội nghị COP26, Việt Nam đã có nhiều bước đi cụ thể để hiện thực hóa lộ trình chuyển đổi xanh.
Theo đó, tháng 1/2022, Chính phủ đã ban hành Quyết định 01 với danh sách 1.912 doanh nghiệp phải kiểm kê khí nhà kính (khí nhà kính).
Đến tháng 8/2024, danh mục này được cập nhật lên 2.166 cơ sở tại Quyết định 13, bao gồm các đơn vị có mức tiêu thụ năng lượng từ 1.000 tấn dầu quy đổi hoặc phát thải từ 3.000 tấn CO₂ trở lên. Đây là bước chuẩn bị cần thiết cho việc vận hành thị trường carbon trong nước, dự kiến giai đoạn thử nghiệm sẽ bắt đầu từ tháng 6/2025 và chính thức hoạt động từ năm 2029.

Tuy nhiên, đằng sau cam kết mạnh mẽ là hàng loạt thách thức thực tế. Theo TS. Lê Hải Hưng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ (IRAT), thách thức khách quan đến từ việc Việt Nam đang bùng nổ công nghiệp hóa, đô thị hóa, tiêu dùng… dẫn đến bùng nổ nhu cầu năng lượng trong khi an ninh năng lượng chưa thật sự vững chắc.
“Tỷ lệ năng lượng hóa thạch rất cao so với các nước; năng lượng sử dụng vào luyện kim, vật liệu xây dựng phát thải nhiều khí nhà kính; nền nông nghiệp lúa nước phát thải nhiều CH4 và N2O không dễ thay đổi”, vị chuyên gia cho biết.
Theo số liệu mà TS Hưng cung cấp, nếu tính lượng khí nhà kính phát thải của một quốc gia bằng công thức lượng phát thải CO2 trung bình của một người dân nhân với dân số quốc gia thì Ả-rập Xê-Út hiện là quốc gia có mức phát thải đầu người cao nhất, sau đó là Australia, Mỹ, Canada và Hàn Quốc.

Trung Quốc là trường hợp đặc biệt: dân số đông và phát thải bình quân đầu người cao khiến nước này chiếm tới 35–37% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Trong khu vực ASEAN, Indonesia là quốc gia phát thải cao nhất.
Đối với Việt Nam, TS. Hưng đã tính thêm chỉ số chất lượng phát triển, đo bằng tấn khí nhà kính/1.000 USD GDP bình quân đầu người, cho thấy Việt Nam đang đứng thứ 6 thế giới về phát thải khí nhà kính tính trên hiệu quả tăng trưởng, đạt mức gần 1,2 tấn khí nhà kính/1.000 USD. Trước con số này, ông Hưng cho rằng Việt Nam đang có nhiều vấn đề cần phải xem lại với cam kết Net Zero vào năm 2050.
Bên cạnh đó là thách thức chủ quan, là những khoảng trống pháp lý trong hoạt động đào tạo, cấp phép, kiểm kê và công nhận kết quả kiểm kê khí nhà kính. “Hội thảo nhiều nhưng đào tạo ít; thiếu thông tin về thị trường carbon có thể dẫn đến việc chúng ta bị thua thiệt trong giao dịch tín chỉ carbon; thiếu năng lực và tự tin khi xây dựng phương pháp luận, dẫn đến dễ bị phụ thuộc và cuối cùng là thua thiệt khi tham gia thị trường carbon”, ông Hưng nói.
Chậm tham gia thị trường carbon, đánh mất nhiều cơ hội
Được biết, nhiều quốc gia phát triển đã đi trước rất xa trên thị trường tín chỉ carbon. Ngay từ năm 2015, khi VIệt Nam chưa hề quan tâm tới khí nhà kính, Hàn Quốc từ năm 2015 đã xây dựng một cơ quan nghiên cứu về giao dịch tín chỉ carbon. Hiện nay, giao dịch tín chỉ carbon của Hàn quốc đã bao hàm được 79% tổng lượng phát thải của toàn quốc gia, với giá trị giao dịch khoảng 2 tỷ USD. Đây là lượng tiền rất lớn trong hoạt động bảo vệ môi trường.
Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore là quốc gia có phát thải trên đầu người rất lớn. Đất nước này đã thành lập ban thư ký về nghiên cứu biến đổi khí hậu quốc gia. Từ năm 2019, Singapore đã áp dụng thuế carbon ở mức 5 SGD/tấn và dự kiến trong những năm tới có thể nâng lên 60–80 SGD.
Trong khi đó, thị trường tín chỉ carbon của Việt Nam mở rất muộn. TS Lê Hải Hưng cho rằng, việc đi sau có thể là lợi thế để học hỏi được các quốc gia đi trước như Singapore và Hàn Quốc.
“Việt Nam cần tiến hành kiểm kê, báo cáo và thẩm định các kết quả thu thập khí nhà kính, cũng tham gia dần vào thị trường carbon. Ngoài ra, chúng ta cũng gắn thị trường carbon vào một quỹ phát triển xanh của Việt Nam để sẵn sàng vận hành thị trường”, vị chuyên gia này cho biết.
Theo ông, việc tham gia thị trường carbon giống như đi chợ – doanh nghiệp cần biết mình tham gia thị trường để bán gì, mua gì. Để có thể bán nhiều, mua ít (tức là giảm được phát thải), các doanh nghiệp phải bằng mọi cách giảm được phát thải nhà kính trong toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất.
Một số giải pháp được đưa ra như tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo như lắp đặt điện mặt trời mái nhà, sử dụng điện gió, hay áp dụng công nghệ kinh tế tuần hoàn để giảm bớt tiêu thụ năng lượng và giảm bớt cơ sở vật chất đầu vào, gia tăng hiệu quả sản xuất. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần củng cố năng lực nội bộ, từ đào tạo nhân lực, tham gia lớp học kiểm kê khí nhà kính đến hợp tác với các quỹ phát triển xanh trong và ngoài nước.
“Nếu không chuẩn bị sớm để tham gia vào thị trường carbon, Việt Nam sẽ mất nhiều cơ hội. Trước tiên là cơ hội xuất khẩu hàng hoá vào các quốc gia đã áp dụng Cơ chế điều chỉnh carbon qua biên giới (CBAM). Nếu chậm chân hơn nữa, Việt Nam có thể bị loại khỏi chuỗi cung ứng xuất khẩu cho thị trường có quy định này”, ông Hưng cảnh báo.
Trong khi đó, nếu tham gia sớm, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội chứng minh sản phẩm của mình có vết carbon thấp, qua đó tận dụng được cả quỹ phát triển xanh trong nước lẫn quốc tế.
Báo động tình trạng gian lận tín chỉ carbon: Việt Nam cần làm gì?
Biến tín chỉ carbon rừng thành tiền: Loay hoay ở vạch xuất phát
(VNF) - Dù sở hữu tiềm năng hấp thụ carbon thuộc hàng lớn nhất Đông Nam Á, thị trường tín chỉ carbon rừng tại Việt Nam vẫn loay hoay ở vạch xuất phát. Từ rào cản pháp lý, khái niệm chưa rõ ràng đến cơ chế tài chính thiếu minh bạch, hành trình biến rừng thành tài sản carbon giá trị đang vấp phải nhiều điểm nghẽn.
Tài sản số, tín chỉ carbon: Cần được ‘chính danh’ để trở thành TSBĐ ngân hàng
(VNF) - Theo chuyên gia, việc xác lập rõ ràng địa vị pháp lý của tài sản số và tín chỉ carbon trong Bộ luật Dân sự là điều kiện tiên quyết để chúng có thể thực sự trở thành tài sản bảo đảm trong các giao dịch tài chính.
Đối mặt nguy cơ bị áp thuế carbon: Việt Nam cần hành động gì?
(VNF) - Khi số lượng các quốc gia áp dụng thuế carbon nhiều hơn và công cụ kiểm chứng carbon hoàn chỉnh hơn thì Việt Nam cần có những sự chuẩn bị để bắt kịp với xu thế toàn cầu.
EU bất ngờ ‘hạ chuẩn’ ESG để cứu doanh nghiệp
(VNF) - EU vừa nới lỏng hàng loạt quy định ESG nhằm giảm gánh nặng tuân thủ và hỗ trợ doanh nghiệp trước áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ Mỹ và Trung Quốc.
ESG không còn là khẩu hiệu, mà là ‘vé vào cửa’ để hút vốn
(VNF) - Khi nhà đầu tư ngày càng siết tiêu chuẩn về quản trị và minh bạch dữ liệu, ESG đang trở thành “tấm vé” để doanh nghiệp hút vốn giá rẻ.
Biến mỡ cá basa, dầu ăn thải loại thành 'xăng' máy bay thế hệ mới
(VNF) - Trong bối cảnh ngành hàng không toàn cầu tăng tốc lộ trình giảm phát thải carbon, nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) đang trở thành giải pháp chiến lược. Với lợi thế lớn về nguồn nguyên liệu sinh khối, cùng những bước đi chính sách đầu tiên, Việt Nam được đánh giá có nhiều cơ hội tham gia chuỗi giá trị SAF toàn cầu.
Xuân Cầu bắt tay ‘anh cả’ xăng dầu và startup triệu USD làm trạm sạc xe điện
(VNF) - Cái bắt tay giữa Xuân Cầu Holdings và Petrolimex đánh dấu bước đi chiến lược trong phát triển hệ sinh thái năng lượng xanh và mở rộng sang lĩnh vực năng lượng cho giao thông điện tại Việt Nam.
132 USD cho 1 tấn CO₂ phát thải: DN xi măng thêm áp lực chi phí mới
(VNF) - Chi phí xử lý phát thải CO₂ có thể lên tới 132 USD/tấn đang tạo áp lực lớn lên nhiều ngành công nghiệp và xi măng là 1 ví dụ. Điều này khiến các DN đối mặt nguy cơ tăng chi phí sản xuất và giảm sức cạnh tranh.
‘Mỏ vàng xanh’ 156 triệu tấn, nguồn lợi tỷ USD Việt Nam đang bỏ lỡ
(VNF) - Mỗi năm, Việt Nam tạo ra khoảng 156 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu, bã mía hay vỏ dừa. Khối lượng “rác” khổng lồ này hiện vẫn chủ yếu bị bỏ đi hoặc xử lý kém hiệu quả, trong khi theo góc nhìn kinh tế tuần hoàn, đây lại là một “mỏ vàng xanh” có thể tạo ra giá trị hàng tỷ USD.
Tín dụng xanh cho nông nghiệp tắc nghẽn: Lỗi không phải do thiếu tiền
(VNF) - Dù tín dụng nông nghiệp và tín dụng xanh tăng trưởng tích cực, dòng vốn vẫn khó chảy mạnh vào các mô hình nông nghiệp xanh, nông nghiệp số. Thực tế cho thấy, nút thắt không nằm ở thiếu vốn mà ở thể chế, dữ liệu và cơ chế chia sẻ rủi ro, khiến dòng tín dụng chưa thể lan tỏa đúng nhu cầu của nền kinh tế xanh.
Đầu tư tăng trưởng xanh: Luật chơi mới của toàn cầu, Việt Nam phải nâng chuẩn chính mình
(VNF) - Đầu tư cho “xanh” có thể làm tăng chi phí trước mắt, nhưng lại mở ra cơ hội nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Khi tiêu chuẩn môi trường ngày càng siết chặt, “xanh hóa” dần trở thành yêu cầu bắt buộc với doanh nghiệp.
Điện rác: Lời giải bài toán xử lý chất thải
(VNF) - Mô hình nhà máy điện rác tại Sóc Sơn không chỉ góp phần giải quyết bài toán rác thải đô thị mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, khi vừa xử lý chất thải, vừa tạo ra nguồn năng lượng hữu ích cho xã hội.













