Đổi Mới lần 2: đòi hỏi từ thực tiễn
Nhiều năm sau, TS. Lê Đăng Doanh vẫn tiếp tục nói về chủ đề này. Năm 2015, ông đã trả lời báo chí quốc tế về vấn đề này và những năm sau đó vẫn tiếp tục nhiều lần đề cập. Ông nhấn mạnh: “Nếu như cuộc Đổi Mới lần 1 là cuộc Đổi Mới để giải phóng năng lực sản xuất, thì cuộc Đổi Mới lần 2 phải là cuộc Đổi mới toàn diện, cải cách toàn diện cả về thể chế, bộ máy”.
Nhiều chuyên gia cũng bày tỏ quan điểm này nhưng cũng cuối cùng câu chuyện vẫn chỉ dừng lại ở mức các cuộc thảo luận chuyên môn. 15 năm qua, nền kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng và liên tục đối mặt với những thử thách mới, cho tới một ngày tất cả nhận ra rằng Đổi Mới lần 2 là không thể không tiến hành.
Báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn 40 năm Đổi Mới của Đảng nhấn mạnh việc Việt Nam vẫn đang “đứng trước thách thức rất lớn về tụt hậu xa hơn về kinh tế, không thích ứng kịp với biến đổi khí hậu, môi trường suy thoái”.
Theo đó, giai đoạn đổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng mỗi một thập niên lại suy giảm so với thập niên trước. Nền kinh tế Việt Nam phát triển chưa ổn định, bền vững, chất lượng tăng trưởng thấp, năng lực cạnh tranh yếu. Nền kinh tế cơ bản còn phát triển theo chiều rộng, chuyển dịch sang phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao còn chậm.
Bên cạnh đó, tăng trưởng năng suất trên đà giảm xuống, nợ công, thâm hụt ngân sách nhà nước cao, kéo dài. Doanh nghiệp trong nước 95-96% là doanh nghiệp nhỏ, trình độ công nghệ thấp. Những điều đó đặt ra thách thức rất lớn với việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình.
Nhìn từ bên ngoài, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra trên rất nhiều bình diện với trình độ rất cao, hầu như với tất cả các lĩnh vực kinh tế. Mặt khác, Việt Nam là quốc gia bị tổn thương nhiều bởi tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực. Xu hướng già hóa dân số nhanh và chất lượng dân số thấp ở Việt Nam tác động ngày càng mạnh đối với nền kinh tế Việt Nam trong cả ngắn hạn và dài hạn...
Đó chính là lý do để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định phải đưa đất nước vào một “kỷ nguyên mới”, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy trong câu chữ của văn kiện không đề cập trực tiếp đến khái niệm “Đổi Mới lần 2”, nhưng về nội hàm của văn kiện đã khẳng định điều đó.
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Đại hội XIV có trọng trách lịch sử xác lập những quyết sách mang tính "bệ phóng" để thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước”. Theo đó, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Không chỉ nêu mục tiêu chung chung, Đảng cũng xác định mục tiêu định lượng cụ thể, theo đó phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm.
Để thực hiện được mục tiêu trên, hàng loạt chủ trương chính sách lớn đã được ban hành trong năm 2025 vừa qua và sẽ tiếp tục được hoàn thiện, bổ sung trong thời gian tới.
Định hình lộ trình mới
Nhớ lại hành trình Đổi Mới của năm 1986, ban đầu cũng chưa ai định nghĩa được “Đổi Mới” một cách rõ ràng, mà phải đến khi văn kiện của Đại hội lần thứ VI được thông qua, mở ra rất nhiều không gian cải cách, đặc biệt là về kinh tế, thì khái niệm Đổi Mới theo cách hiểu đầy đủ nhất mới thực sự thành hình.
Và vì thế, với việc Báo cáo chính trị Đại hội XIV xác định “12 định hướng lớn; 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược” cùng với chương trình hành động đã cụ thể hoá các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay.
Đặc biệt, Báo cáo xác định thể chế là "điểm nghẽn của điểm nghẽn" nhưng cũng là "đột phá của đột phá", theo đó phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới.
Theo đó, Việt Nam sẽ “đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ”. Luận điểm này khiến chúng ta nhớ lại quan điểm của TS. Lê Đăng Doanh trước đây về việc “cải cách toàn diện cả về thể chế, bộ máy”.
Những tiếng nói chuyên gia mới nhất cũng ủng hộ cho điều này. Trong cuộc trả lời phỏng vấn mới đây của VietnamFinance, PGS.TS Trần Đình Thiên đã đề cập tới một “nhịp tăng trưởng thăng hoa thứ hai”.
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, Việt Nam cần tạo ra một “nhịp tăng trưởng thăng hoa thứ hai", tương tự như bước ngoặt của năm 1986, khi bắt đầu thừa nhận kinh tế tư nhân và từ đó giúp nền kinh tế trỗi dậy mạnh mẽ. “Nếu như trước đây kinh tế tư nhân mới chỉ được “thừa nhận”, thì nay nó phải được xem là một động lực tăng trưởng quan trọng nhất, cần được thúc đẩy thông qua một hệ thống chính sách thiết kế bài bản", ông Thiên nói.
Với các diễn biến hiện tại, không quá khi nói rằng Việt Nam đang thực sự bước vào "Đổi Mới lần 2”!