Kết quả kinh doanh và sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng
Lê Hoài Ân - CFA -
05/02/2026 09:30 (GMT+7)
(VNF) - Báo cáo tài chính quý IV/2025 vừa được công bố cho thấy bức tranh kết quả kinh doanh tích cực từ các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, kết quả kinh doanh của các ngân hàng có sự phân hóa lớn dựa trên đặc điểm phân bổ dòng vốn tín dụng trong năm qua.
Năm 2025 đánh dấu giai đoạn tín dụng tiếp tục được thúc đẩy trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp suốt thời gian dài. Nhờ đó, dư nợ toàn hệ thống ngân hàng mở rộng nhanh, góp phần duy trì nhịp độ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc giữ lãi suất ở mức thấp để kích thích giải ngân tín dụng khiến biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng tiếp tục chịu áp lực thu hẹp.
Tăng trưởng tín dụng dù diễn ra đồng bộ hơn ở các ngân hàng nhưng chất lượng hiệu quả của tín dụng trong mối tương quan với NIM là chìa khóa chính quyết định hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng. Trong điều kiện đó thì một yếu tố nổi lên đóng vai trò rất quan trọng để tạo nên sự khác biệt: Sự hỗ trợ của các hệ sinh thái.
NIM toàn ngành kéo dài xu hướng sụt giảm
Việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng đã tạo ra tác động hai chiều rõ nét lên NIM của hệ thống ngân hàng. Một mặt, lãi suất huy động được giữ ở mức thấp và tương đối ổn định, qua đó hỗ trợ kiểm soát chi phí vốn. Mặt khác, lãi suất cho vay cũng neo ở mức thấp để phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế, khiến dư địa mở rộng biên lãi đầu ra bị thu hẹp. Sự giằng co giữa hai yếu tố này định hình xu hướng NIM trong giai đoạn vừa qua.
Thực tế cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay đã bước vào giai đoạn ổn định sau chu kỳ giảm sâu. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân cuối năm 2023 dao động trong khoảng 8,3 - 10,5%/năm, giảm xuống 6,7 - 9,0%/năm vào cuối năm 2024 và tiếp tục được duy trì trong vùng này đến cuối năm 2025. Đáng chú ý, trong giai đoạn quý II - quý III/2025, lãi suất cho vay ghi nhận mức giảm mạnh hơn, lùi về khoảng 6,5 - 8,8%/năm. Diễn biến này cho thấy lãi suất cho vay nhiều khả năng đã chạm vùng đáy và đang từng bước điều chỉnh tăng trở lại với biên độ vừa phải, qua đó góp phần giảm bớt áp lực từ phía lợi suất đầu ra lên NIM.
Ở chiều ngược lại, lãi suất huy động đang trở thành biến số đáng chú ý hơn trong bài toán NIM. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng hệ thống ở mức 15% trong năm tới, trong khi tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) tăng nhanh, áp lực cân đối nguồn vốn tại các ngân hàng ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó, việc điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi trở thành lựa chọn khả dĩ. Điều này đồng nghĩa với áp lực gia tăng từ phía chi phí vốn (COF), qua đó đặt ra thách thức lớn cho các ngân hàng trong việc duy trì NIM trong những tháng cuối năm 2025 và cả năm tới.
Theo các báo cáo tài chính quý IV của các ngân hàng, NIM toàn ngành chỉ đạt 3,03%, thấp hơn đáng kể so với mức 3,36% của cùng kỳ năm trước, kéo xu hướng giảm đều trong 3 năm qua. Trong bối cảnh chung, các ngân hàng quy mô lớn ghi nhận mức giảm tương đối mạnh trong kỳ, với biên độ ngày càng mạnh hơn từ 0,3% đến 0,5% so với cuối năm 2024, trong khi nhóm ngân hàng nhỏ hơn có NIM nhích lên trong giai đoạn cuối năm.
Về số liệu cụ thể, nhóm ngân hàng quốc doanh ghi nhận NIM chỉ còn 2,40% trong quý IV/2025, thấp hơn mức 2.68% cuối năm 2024. Dù lãi suất thấp giúp các ngân hàng quốc doanh duy trì chi phí vốn thấp, tuy nhiên do lãi suất đầu ra giảm để kích thích tăng trưởng quy mô lớn làm NIM chịu áp lực điều chỉnh liên tục.
Diễn biến NIM toàn ngành và theo nhóm ngân hàng (Nguồn: Widata)
Nhóm các ngân hàng bán lẻ là nhóm chịu tác động mạnh nhất về NIM, giảm từ 4,26% cuối năm 2024 xuống 3,74% trong quý IV/2025, tương đương mức giảm hơn 0,5% so với cùng kỳ và thấp hơn mức 3,87% của quý III/2025. Diễn biến này gắn liền với sự dịch chuyển trong cơ cấu danh mục cho vay, theo hướng giảm tỷ trọng cho vay cá nhân (chủ yếu là tín dụng tiêu dùng) và gia tăng cho vay doanh nghiệp vừa và lớn. Nhóm các ngân hàng bán buôn cũng có mức NIM sụt giảm để đẩy mạnh tín dụng nhưng với mức NIM giảm ít hơn, từ 4,05% xuống 3,61%.
Sự hỗ trợ của hệ sinh thái các ngân hàng tạo sự khác biệt
Nếu nhìn vào bức tranh chung của ngành ngân hàng trong giai đoạn hiện tại, có thể thấy NIM đang là gánh nặng lớn trong việc duy trì tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng. Khi mặt bằng lãi suất cho vay chịu áp lực giảm và cạnh tranh lãi suất huy động ngày càng gia tăng, mô hình tăng trưởng dựa thuần vào chênh lệch lãi suất dần bộc lộ những giới hạn. Chính trong bối cảnh đó, sự khác biệt giữa các ngân hàng không còn nằm ở quy mô tín dụng hay tốc độ mở rộng dư nợ, mà chuyển dịch sang chất lượng hệ sinh thái khách hàng và khả năng đa dạng hóa nguồn thu.
Bức tranh lợi nhuận và NIM của các ngân hàng lớn (Nguồn: Widata).
Trong bối cảnh NIM toàn ngành suy giảm mạnh ở hầu hết các ngân hàng lớn, nhóm ngân hàng bán lẻ là nhóm chịu tác động rõ rệt nhất khi danh mục cho vay tập trung lớn vào khách hàng cá nhân, phân khúc chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tiêu dùng chưa phục hồi rõ nét trong khi tăng trưởng tín dụng thấp hơn so với các nhóm ngân hàng khác.
Dữ liệu cho thấy, ngoại trừ VPB, hầu hết các ngân hàng bán lẻ đều ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận thấp hoặc suy giảm trong năm 2025, đi kèm với mức thu hẹp NIM mạnh nhất trong toàn ngành.
Cụ thể, NIM của ACB giảm tới 0,73 điểm %, VIB giảm 0,73 điểm %, TPB giảm 0,46 điểm %, trong khi lợi nhuận ACB giảm 7% và VIB chỉ tăng trưởng 1%. Điều này phản ánh thực tế rằng việc đẩy mạnh cho vay bán lẻ trong bối cảnh cầu tín dụng yếu và cạnh tranh lãi suất gay gắt không còn mang lại hiệu quả sinh lời như giai đoạn trước, buộc các ngân hàng phải đẩy mạnh sang các phân khúc doanh nghiệp để hỗ trợ tăng trưởng.
Trái ngược với phần còn lại của nhóm bán lẻ, các ngân hàng sở hữu hệ sinh thái tài chính - tiêu dùng lớn như VPB, MBB và TCB lại cho thấy khả năng chống chịu vượt trội trong bối cảnh NIM suy giảm. VPB dù NIM giảm 0,55 điểm % vẫn ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận lên tới 53%, cao nhất toàn ngành.
Điểm khác biệt của VPB nằm ở việc ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào hoạt động cho vay truyền thống mà còn sở hữu một hệ sinh thái tài chính tương đối mạnh mẽ, bao gồm tài chính tiêu dùng, chứng khoán, bảo hiểm và các nền tảng dịch vụ số. Hệ sinh thái này cho phép VPB mở rộng tệp khách hàng, tăng cường bán chéo sản phẩm và gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi, qua đó giảm mức độ phụ thuộc vào NIM.
Tương tự, MBB và TCB trong nhóm ngân hàng doanh nghiệp cũng duy trì mức tăng trưởng lợi nhuận lần lượt là 19% và 18% dù NIM giảm tương ứng 0,30 và 0,47 điểm %. Với MBB, lợi thế hệ sinh thái đến từ khả năng kết nối chặt chẽ giữa ngân hàng, các công ty thành viên và nền tảng ngân hàng số, giúp mở rộng độ phủ dịch vụ tài chính tới cả khách hàng cá nhân lẫn doanh nghiệp, đặc biệt là các đối tác doanh nghiệp quân đội.
Việc sở hữu tệp khách hàng lớn, gắn bó lâu dài và sử dụng đa dạng sản phẩm giúp MBB duy trì tỷ lệ CASA cao, từ đó giúp tối ưu chi phí vốn. Bên cạnh đó, các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm và tài chính số đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu thu nhập, giúp lợi nhuận không còn phụ thuộc hoàn toàn vào tăng trưởng tín dụng.
Đối với TCB, hệ sinh thái thể hiện rõ ở chiến lược xây dựng nền tảng khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân có chất lượng cao, gắn liền với các giải pháp tài chính trọn gói thay vì chỉ cung cấp sản phẩm tín dụng đơn lẻ. Việc duy trì CASA ở mức cao trong nhiều năm liền giúp TCB có chi phí vốn thấp hơn mặt bằng chung. Đồng thời, hệ sinh thái dịch vụ xoay quanh thanh toán, ngân hàng số và các giải pháp tài chính cho chuỗi giá trị doanh nghiệp giúp TCB gia tăng thu nhập ngoài lãi và duy trì tăng trưởng lợi nhuận ổn định.
Sự khác biệt về hệ sinh thái cũng thể hiện rõ ngay trong nhóm ngân hàng quốc doanh, nơi CTG nổi lên là ngân hàng có mức tăng trưởng lợi nhuận vượt trội nhất. Trong khi VCB chỉ ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận 4% với NIM giảm 0,31 điểm %, CTG đạt mức tăng trưởng lợi nhuận lên tới 37% dù NIM cũng suy giảm 0,33 điểm %.
Điều này phản ánh lợi thế của CTG trong việc khai thác hệ sinh thái doanh nghiệp - bán lẻ kết hợp, đặc biệt là mạng lưới khách hàng doanh nghiệp lớn, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái thanh toán gắn với khu vực FDI và doanh nghiệp Nhà nước. Nhờ đó, CTG không chỉ duy trì tăng trưởng tín dụng tốt hơn mà còn gia tăng đáng kể thu nhập phí và dịch vụ, qua đó bù đắp hiệu quả cho sự suy giảm của NIM.
Tổng thể, kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng trong chu kỳ hiện tại cho thấy một sự phân hóa giữa những ngân hàng có hệ sinh thái lớn mạnh so với các ngân hàng còn lại. Những ngân hàng phụ thuộc lớn vào tín dụng bán lẻ truyền thống đang chịu áp lực kép từ biên lợi nhuận thu hẹp và cầu tín dụng yếu, khiến tăng trưởng lợi nhuận kém tích cực dù quy mô không nhỏ.
Ngược lại, các ngân hàng sở hữu hệ sinh thái khách hàng rộng khắp đã cho thấy khả năng thích ứng tốt hơn thông qua việc tối ưu chi phí vốn, gia tăng CASA và mở rộng các nguồn thu ngoài lãi.
(VNF) - Nhận định về Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 22 của NHNN, các chuyên gia SHS Research cho rằng cần có lộ trình triển khai phù hợp với thực trạng thị trường vốn và năng lực của tổ chức tín dụng, tránh tạo ra áp lực thanh khoản đột ngột hoặc làm thu hẹp khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế trong giai đoạn chuyển tiếp.
(VNF) - Tập đoàn tài chính Sumitomo Mitsui Financial Group (SMFG), ngân hàng lớn thứ hai Nhật Bản, vừa công bố kết quả kinh doanh năm tài chính kết thúc ngày 31/3/2026 với lợi nhuận ròng tăng mạnh, đồng thời đưa ra dự báo tiếp tục lập kỷ lục mới trong năm tài chính tiếp theo.
(VNF) - Chồng bà Nguyễn Thị Nga - Phó Chủ tịch SeABank - đăng ký mua 5 triệu cổ phiếu SSB trong khi con trai muốn bán ra lượng cổ phiếu tương ứng. Sau giao dịch, gia đình bà Nga vẫn nắm hơn 9,5% vốn SeABank.
(VNF) - Ngân hàng VietinBank vừa rao bán nhà máy chế biến nông sản Tanifood tại Tây Ninh (liên quan bà Trương Mỹ Lan) với mức giá khởi điểm 1.216 tỷ đồng nhằm thu hồi nợ.
(VNF) - Đằng sau việc các ngân hàng đóng cửa hàng chục, hàng trăm phòng giao dịch là chiến lược cắt giảm chi phí, tối ưu hiệu quả vận hành trong kỷ nguyên số.
(VNF) - Ba ngân hàng lớn nhất Nhật Bản nhiều khả năng sẽ tiếp tục thiết lập các kỷ lục lợi nhuận mới khi chính sách tiền tệ bình thường hóa của ngân hàng trung ương giúp tăng biên lợi nhuận của họ.
(VNF) - Theo Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng, nếu người dân không tin tưởng vào sự an toàn của giao dịch số, không tin rằng dữ liệu cá nhân của họ được bảo vệ, không tin rằng các quyết định tài chính được đưa ra minh bạch, công bằng và có trách nhiệm thì mọi thành tựu công nghệ đều khó phát huy đầy đủ giá trị.
(VNF) - Giá USD tại hầu hết ngân hàng sáng nay được điều chỉnh đi lên, cùng chiều với diễn biến của giá đồng bạc xanh trên thị trường thế giới. Trong khi đó, giá USD tự do lại giảm mạnh.
(VNF) - Tăng trưởng tín dụng đang vượt khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng. Áp lực thanh khoản đang gia tăng khi tín dụng được đẩy mạnh trong khi khả năng huy động vốn không theo kịp.
(VNF) - Theo ông Lê Hoài Ân, chuyên gia ngành ngân hàng, vấn đề toàn ngành ngân hàng không chỉ là nợ xấu, mà là ngân hàng nào còn đủ bộ đệm để hấp thụ rủi ro nếu áp lực chuyển nhóm nợ tiếp diễn.
(VNF) - Tín dụng bất động sản xoay trục, dòng vốn đã chuyển dần sang xây dựng. Trong khi đó, lợi nhuận ngành ngân hàng quý I phân hóa mạnh, nhiều nhà băng đi lùi.
(VNF) - Tài khoản ngân hàng có số dư dưới 500.000 đồng hoặc tài khoản "ngủ đông" đều bị thu phí quản lý. Khách hàng lưu ý để không bị trừ sạch tiền trong tài khoản.
(VNF) - Chỉ trong 3 tháng đầu năm, có tới hơn 4.200 nhân sự nghỉ việc cho thấy cuộc 'đại tinh gọn' nhân sự trong ngành ngân hàng để thích nghi với mô hình ngân hàng số.
(VNF) - Thay vì "đánh đồng" chung một mức hệ số rủi ro, các chuyên gia đề xuất cần phân tách rõ ràng và chi tiết hệ số rủi ro dựa trên mục đích sử dụng và từng phân khúc sản phẩm bất động sản cụ thể.
(VNF) - Deutsche Bank ghi nhận lợi nhuận kỷ lục trong quý I/2026, bất chấp phải tăng mạnh dự phòng rủi ro liên quan đến chiến tranh Iran và những lo ngại ngày càng lớn về sức khỏe của thị trường tín dụng tư nhân.
(VNF) - Ngày 6/5, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings (Moody’s) vừa công bố nâng xếp hạng tiền gửi dài hạn và xếp hạng nhà phát hành của Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB; HoSE: MBB) từ Ba3 lên Ba2.
(VNF) - Nhiều ngân hàng liên tục đưa các xe chuyên dụng chở tiền ra đấu giá với mức giá khởi điểm chỉ từ vài chục triệu đồng mỗi chiếc, ngang giá xe máy tay ga.
(VNF) - Tăng trưởng tiền gửi khách hàng tại 27 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán chỉ "nhích nhẹ" trong quý I/2026 trong khi cầu tín dụng đang dần phục hồi. Điều này cho thấy nguồn vốn đang trở thành điểm nóng của ngành ngân hàng.
(VNF) - Ngân hàng UOB ghi nhận lợi nhuận ròng quý I/2026 đạt 1,44 tỷ SGD (tương đương khoảng 1,14 tỷ USD), phù hợp kỳ vọng thị trường nhờ tăng trưởng cho vay và quản lý tài sản ổn định giữa bối cảnh lãi suất giảm.
(VNF) - Fintech Kredivo (Indonesia) đã hoàn tất việc mua lại 100% ngân hàng số Timo, nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính gồm tín dụng, thanh toán và tiết kiệm.
(VNF) - Nhận định về Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 22 của NHNN, các chuyên gia SHS Research cho rằng cần có lộ trình triển khai phù hợp với thực trạng thị trường vốn và năng lực của tổ chức tín dụng, tránh tạo ra áp lực thanh khoản đột ngột hoặc làm thu hẹp khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế trong giai đoạn chuyển tiếp.
(VNF) - Sau gần một năm kể từ khi Hà Tĩnh thực hiện sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính, hàng loạt trụ sở công từng được đầu tư hàng chục tỷ đồng đang rơi vào cảnh bỏ hoang, xuống cấp thậm chí bị kẻ gian đập phá, lấy trộm tài sản.