‘Nền kinh tế đang phục hồi: Không nhanh, không chậm nhưng bền vững
Kỳ Thư -
08/02/2024 16:27 (GMT+7)
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn Thị trường Tài chính (Đại học Kinh tế TP. HCM) đánh giá tốc độ phục hồi hiện tại của kinh tế Việt Nam đang theo mô hình tuyến tính, không nhanh, không chậm, nhưng bền vững.
Năm 2023, nền kinh tế Việt Nam nếm trải không ít khó khăn dù cuối năm mở ra hy vọng khởi sắc từ những tín hiệu phục hồi. Năm 2024, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 6 - 6,5%, đây thực sự là thách thức lớn khi vẫn còn đó những áp lực và rủi ro cần theo dõi thêm…
Vậy làm thế nào để kinh tế Việt Nam phục hồi ở mức độ tốt nhất. Xung quanh vấn đề này, Tạp chí Đầu tư Tài chính có cuộc trò chuyện với PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn Thị trường Tài chính (Đại học Kinh tế TP. HCM).
TS Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn Thị trường Tài chính (Đại học Kinh tế TP. HCM).
- Ông đánh giá như thế nào về tốc độ phục hồi nền kinh tế ở thời điểm hiện tại?
TS Nguyễn Hữu Huân: Theo tôi, tốc độ phục hồi hiện tại của kinh tế Việt Nam đang theo mô hình tuyến tính, không nhanh, không chậm nhưng bền vững. Bởi mặc dù các chính sách đang hỗ trợ rất tốt cho doanh nghiệp và người dân, nhưng sức cầu vẫn tương đối yếu do yếu tố tâm lý (mọi người vẫn đang ưu tiên cho tiết kiệm để phòng ngừa những rủi ro về sinh kế có thể xảy ra trong tương lai hơn là tiêu dùng và đầu tư), một phần là sự phục hồi của kinh tế thế giới vẫn đang khá chậm bởi việc duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát ở hầu hết các ngân hàng trung ương trên thế giới.
-Hiện nay, nền kinh tế còn đối diện với những khó khăn nào từ trong nước và thế giới, thưa ông?
Thứ nhất, một tin không vui là FED vẫn giữ nguyên mức lãi suất cao nhất trong vòng 20 năm qua để tiếp tục mục tiêu kiểm soát lạm phát, và nhiều khả năng sẽ không có đợt cắt giảm lãi suất nào cho đến giữa năm 2024.
Điều này sẽ làm cho tình hình kinh tế thế giới vẫn sẽ ở trạng thái hồi phục chậm do lãi suất cao và các ngân hàng trung ương vẫn sẽ phải duy trì các chính sách thắt chặt tiền tệ giống như với FED để tránh dòng tiền chảy ra khỏi quốc gia hay các vấn đề về vĩ mô khác. Và nếu như sự phục hồi kinh tế thế giới chậm thì sẽ tác động đến xuất khẩu của Việt Nam, việc kỳ vọng xuất khẩu hồi phục mạnh mẽ trong năm nay sẽ khó khăn hơn rất nhiều trước diễn biến kinh tế thế giới hiện tại.
Bên cạnh đó, việc các cuộc xung đột ở Trung Đông, đặc biệt là ở tuyến đường hàng hải trên biển Đỏ cũng sẽ là một mối lo ngại lớn về thương mại toàn cầu cũng như ảnh hưởng đến giá dầu. Một cú sốc về phía cung có thể tiếp tục xảy ra nếu như các cuộc xung đột trở nên căng thẳng và vượt tầm kiểm soát.
Về các yếu tố vĩ mô trong nước, các lo ngại về rủi ro nợ xấu trong nền kinh tế, cũng như sức khỏe của các doanh nghiệp cũng dần tăng lên, nếu kinh tế không phục hồi tốt như dự báo thì gánh nặng về nợ nần sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến doanh nghiệp cũng như hệ thống ngân hàng thương mại.
Thêm vào đó, sức cầu quốc tế yếu sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến sức cầu trong nước, khi động lực xuất khẩu bị ảnh hưởng thì doanh nghiệp sẽ tiếp tục khó khăn, từ đó ảnh hưởng đến công ăn việc làm của người lao động, dẫn đến người lao động sẽ tiếp tục thắt chặt chi tiêu, và hệ quả là sức cầu lại yếu hơn và lại tiếp tục ảnh hưởng đến doanh nghiệp và nền kinh tế…
Điều này tạo nên một vòng xoáy và có thể ảnh hưởng mạnh đến khả năng phục hồi của kinh tế trong nước.
-Ở trong nước, dù lãi suất đã hạ nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn không thể tiếp cận được vốn. Theo ông, nên gỡ nút thắt này như thế nào?
Theo tôi, tình trạng của Việt Nam hiện nay tương đồng với Mỹ và các nước châu Âu giai đoạn 2007-2009, khi đã giảm lãi suất về tiệm cận 0% nhưng vẫn không thể kích thích kinh tế tăng trưởng như mong muốn. Tức chính sách tiền tệ siêu lỏng và chạm ngưỡng chặn dưới của lãi suất.
Vấn đề của Việt Nam tương đối khác ở chỗ là một bộ phận doanh nghiệp vẫn có nhu cầu vay vốn, và thậm chí chấp nhận mức lãi suất cao nhưng họ lại không đủ điều kiện để tiếp cận vốn. Việc gỡ nút thắt ở chỗ này rất khó vì nếu như chấp nhận cho vay dưới chuẩn thì rủi ro về nợ xấu của hệ thống lại tăng cao.
Ở phần này, có thể chúng ta cân nhắc thêm về việc đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp dựa trên dòng tiền và hợp đồng có được hơn là ở tài sản đảm bảo như hiện nay, thì có thể gỡ được phần nào nút thắt này.
Ở hướng thứ 2, một bộ phận lớn doanh nghiệp và người dân đủ điều kiện vay nhưng họ không có nhu cầu vay, bởi tâm lý vẫn là tiết kiệm hơn là tiêu dùng và đầu tư. Ở hướng này để kích thích tiêu dùng và đầu tư, chúng ta cần phải tác động đến lãi suất trong dài hạn hơn là lãi suất ngắn hạn như hiện tại như kinh nghiệm ở Mỹ năm 2007-2009. Tức tung ra các gói nới lỏng định lượng mua trái phiếu của các ngân hàng trong dài hạn với lãi suất thấp.
Như chúng ta biết, nhu cầu các khoản vay của người dân và doanh nghiệp đa số là vay dài hạn, nhưng ngân hàng đa số chỉ huy động vốn ngắn hạn từ tiền gửi tiết kiệm. Và theo quy định thì chỉ được dùng 30% vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Chính vì thế việc thiếu hụt nguồn vốn trung và dài hạn sẽ rất lớn. Bên cạnh đó, các khoản vay dài hạn của ngân hàng thường là chỉ cố định lãi suất trong năm đầu, sau đó thả nổi theo thị trường. Điều này làm dấy lên lo ngại là lãi suất năm nay thấp nhưng năm sau lại tăng cao hơn và ảnh hưởng đến kế hoạch tài chính của doanh nghiệp và người dân.
Chính vì thế, nếu như Ngân hàng Nhà nước cung vốn dài hạn cho ngân hàng thông qua các gói nới lỏng định lượng, và ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để tạo ra các sản phẩm cho vay dài hạn với lãi suất thấp cố định trong suốt chu kỳ vay, chắc chắn sẽ tạo nên bước đột phá trong chính sách và thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng và đầu tư hơn ở thời điểm hiện tại.
Nếu như Ngân hàng Nhà nước cung vốn dài hạn cho ngân hàng thông qua các gói nới lỏng định lượng, và ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để tạo ra các sản phẩm cho vay dài hạn với lãi suất thấp cố định trong suốt chu kỳ vay, chắc chắn sẽ tạo nên bước đột phá trong chính sách và thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng và đầu tư hơn ở thời điểm hiện tại.
-Trong khi đó, với thị trường vốn, ông đánh giá như thế nào về sự phục hồi của thị trường này? Làm thế nào để thị trường vốn thực sự là bệ đỡ cho cộng đồng doanh nghiệp, thưa ông?
Thị trường vốn đang đi lên trong sự hoài nghi, khi mà VN-Index thời gian qua đang miệt mài tăng điểm với thanh khoản thấp.
Điều này cũng chưa thể nói lên nhiều điều trong dài hạn. Để thị trường vốn thực sự phát triển bền vững trong dài hạn, thiết nghĩ sẽ cần rất nhiều điều phải làm trong thời gian tới. Điều quan trọng nhất là tái cấu trúc thị trường theo hướng minh bạch hơn, an toàn hơn và thu hút được nhiều nhà đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài hơn.
Đặc biệt là chúng ta phải nâng hạng được thị trường trong thời gian tới, chỉ khi thị trường được nâng hạng thì các quỹ lớn của thế giới mới bắt đầu thực sự quan tâm đến thị trường Việt Nam.
Bên cạnh đó, việc cung cấp và giáo dục cho các nhà đầu tư cá nhân các kiến thức về chứng khoán và phương pháp đầu tư cũng rất quan trọng, tránh việc đầu cơ, FOMO gây ảnh hưởng nhiều đến sự tăng trưởng bền vững của thị trường.
Ngoài ra, cũng phải tập trung để xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu, và đưa thị trường trái phiếu trở thành một kệnh huy động vốn trung và dài hạn chính của nền kinh tế.
- Đâu sẽ là động lực cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2024 và những năm tiếp theo?
Theo tôi, động lực chính vẫn sẽ là xuất khẩu, bởi nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn và rất dễ bị ảnh hưởng bởi bất kỳ cú sốc nào từ bên ngoài. Và xuất khẩu sẽ đóng vai trò là động lực, là bệ đỡ chính.
Nếu như ví xuất khẩu, tiêu dùng trong nước và đầu tư công là tam mã kéo cỗ xe kinh tế Việt Nam đi lên, thì đi đầu sẽ là xuất khẩu, khi xuất khẩu phục hồi thì nó sẽ tiếp thêm động lực cho tiêu dùng trong nước lẫn đầu tư công bức phá, và từ đó đưa nền kinh tế tăng trưởng theo.
- Ông có khuyến nghị như thế nào để có thể giữ vững được động lực tăng trưởng trong trung và dài hạn?
Để đưa nền kinh tế trở về trạng thái toàn dụng trong dài hạn với thất nghiệp thấp và lạm phát thấp thì cần phải tiếp tục duy trì các chính sách nới lỏng hiện tại cả về tài khóa và tiền tệ. Bên cạnh đó là cần nghiên cứu tung ra các gói nới lỏng định lượng trong dài hạn như phân tích ở phần trên.
Việc nền kinh tế được khơi thông nguồn vốn dài hạn sẽ giúp cho người dân và doanh nghiệp tự tin hơn trong việc tiêu dùng và đầu tư, từ đó thúc đẩy tổng cầu và hỗ trợ cho việc tăng trưởng.
(VNF) - TS. Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Ban IV, khẳng định để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân lớn lên và dẫn dắt các chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
(VNF) - Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, việc lựa chọn động lực dẫn dắt trở nên đặc biệt quan trọng. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, tài chính, đặc biệt là tài chính công nghệ, cần được xác định là mũi nhọn chiến lược nếu muốn tạo bứt phá về năng suất, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao vị thế của nền kinh tế trong dài hạn.
(VNF) - Theo TS. Lê Duy Bình, tranh luận về ngưỡng doanh thu miễn thuế cho hộ kinh doanh thực chất mới chỉ xử lý “phần ngọn”. Điều quan trọng hơn là phải xác lập rõ địa vị pháp lý và cách tiếp cận thuế phù hợp với bản chất kinh doanh cá thể, từ đó tạo nền tảng cải cách bền vững.
(VNF) - Theo ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, dù chịu tác động từ xung đột địa chính trị, chi phí đầu vào tăng và rủi ro thương mại toàn cầu, kinh tế Việt Nam năm 2026 vẫn được dự báo tăng trưởng khoảng 7,2%. Tuy nhiên, để giữ vững đà này, Việt Nam cần linh hoạt điều hành vàvà kiên định với cải cách dài hạn.
(VNF) - TS Võ Trí Thành cho rằng trong nền kinh tế số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực có giá trị như một “mỏ vàng”, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, việc quản trị, phân bổ và kiểm soát dữ liệu lại đặt ra những thách thức phức tạp, từ quyền sở hữu, quyền riêng tư đến cân bằng giữa tự do hóa và an ninh, khiến đây trở thành một trong những bài toán khó nhất hiện nay.
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
(VNF) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng vận hành của hoạt động đầu tư, kinh doanh, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của rủi ro pháp lý và tranh chấp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn phải thiết kế lại tư duy quản trị rủi ro theo hướng chủ động, xuyên suốt toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
Trong cuộc đua nhân sự, nhiều doanh nghiệp TP.HCM đẩy nhanh cấp bậc qua danh xưng để hút ứng viên, nhưng không đi kèm lương, quyền lợi tương xứng, khiến người lao động vỡ kỳ vọng.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS. Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Ban IV, khẳng định để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân lớn lên và dẫn dắt các chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
(VNF) - Dù công tác giải phóng mặt bằng đoạn Nguyễn Trãi - Đầm Hồng, thuộc Vành đai 2.5 Hà Nội, vẫn chưa hoàn tất, dọc tuyến đã xuất hiện nhiều công trình xây trên những thửa đất nhỏ hẹp, méo mó sau phá dỡ. Đáng nói, đa số đất trong khu vực đều có nguồn gốc là đất nông nghiệp.