Nguy cơ tắc dòng chảy tài chính xanh nếu thiếu cơ chế nhất quán
(VNF) - Việt Nam được đánh giá đang có những bước tiến đáng kể trong quá trình chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, tín dụng xanh và tài chính xanh vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, nguồn vốn cho các dự án bền vững chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Hơn 91 tỷ USD cho ứng phó biến đối khí hậu
Tại cuộc họp kỹ thuật “Thúc đẩy tài chính xanh hướng đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0 tại Việt Nam", ông Hà Quang Anh, Giám đốc Trung tâm Thích ứng biến đổi khí hậu và Trung hòa carbon, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) cho biết trên phạm vi toàn cầu, quá trình chuyển đổi hướng đến phát thải ròng bằng 0 đòi hỏi một khoản đầu tư đáng kể. Việt Nam cũng đối mặt với nhu cầu tài chính rất lớn để thực hiện các cam kết khí hậu và mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính.
"Trong giai đoạn 2021-2030, các báo cáo của Chính phủ cho thấy Việt Nam dự kiến cần khoảng 54,99 - 91,65 tỷ USD để tài trợ cho các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu", ông Quang Anh cho hay.
Đồng thời, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật, gửi Ban Thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) tháng 11 năm 2022, Việt Nam cần khoảng 21,7 tỷ USD để thực hiện giảm phát thải 15,8% vào năm 2030 so với kịch bản phát triển thông thường bằng nguồn lực trong nước và cần khoảng 86,8 tỷ USD từ hỗ trợ từ quốc tế để đạt mức giảm phát thải 43,5% vào năm 2030.
Hiện nay, hai sản phẩm tài chính xanh đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường là tín dụng xanh và tài chính xanh. Theo ông Lại Văn Mạnh, chuyên gia Viện Chiến lược, Chính sách NN&MT (Bộ NN&MT), công cụ tín dụng xanh được các tổ chức tín dụng cho vay đối với các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, sản xuất kinh doanh mà không gây rủi ro đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái chung. Trong khi đó, trái phiếu xanh do Chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp phát hành. Về bản chất, đây đều là các khoản vay xanh, huy động vốn cho hoạt động bảo vệ môi trường, dự án đầu tư mang lại lợi ích về môi trường.
Chia sẻ về thực tiễn triển khai tài chính xanh từ phía ngân hàng, ông Trình Quỳnh Thành, đại diện Ngân hàng BIDV cho biết trong những năm gần đây, nhu cầu tài chính xanh tăng lên nhanh chóng, xuất phát từ sự nâng cao nhận thức về sản xuất, kinh doanh xanh. Mặt khác là từ các quy định pháp luật và yêu cầu từ thị trường quốc tế. Dư nợ tín dụng xanh năm 2024 của BIDV chiếm 4,09% tổng dư nợ, tương ứng hàng chục nghìn tỷ đồng và đã tăng 7,2% so với năm 2023. Các khoản vay xanh đến từ các doanh nghiệp dệt may, dự án công trình xanh, sản xuất và cung cấp nước sạch, phát triển năng lượng sạch, lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi theo các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh môi trường.
Thông tin tại hội thảo diễn ra trước đó, ông Lim Dyi Chang, Giám đốc Khối khách hàng doanh nghiệp Ngân hàng UOB Việt Nam cũng đánh giá Việt Nam đang có những bước tiến đáng kể trong quá trình chuyển đổi xanh, nỗ lực cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Các tổ chức tài chính giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua các chính sách hỗ trợ và cung cấp tín dụng cho các dự án thân thiện với môi trường. Hiện tại, các ngân hàng Việt Nam đã cấp khoảng 650.000 tỷ đồng tín dụng xanh, trong đó gần 45% được phân bổ cho các dự án năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, tỷ trọng của tài chính xanh trong tổng dư nợ cho vay vẫn còn hạn chế và nguồn vốn dài hạn cho các dự án bền vững chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Cần hoàn thiện khung pháp lý, đảm bảo tính nhất quán
Để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh và hướng tới mục tiêu Net Zero, ông Lim Dyi Chang cho rằng cần có một cách tiếp cận đa chiều nhằm hỗ trợ nền kinh tế dịch chuyển từ mô hình truyền thống sang nền kinh tế xanh. Theo đó, Chính phủ Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp áp dụng công nghệ xanh và thực hành bền vững. Việc ban hành hướng dẫn rõ ràng, cung cấp các ưu đãi và xây dựng môi trường pháp lý ổn định sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, đồng thời thúc đẩy đầu tư vào năng lượng tái tạo, quản lý chất thải và hạ tầng xanh.
Để đảm bảo nguồn vốn cho quá trình này, đại diện Ngân hàng UOB Việt Nam cũng cho hay các tổ chức tài chính cần tiếp tục mở rộng các kênh tài trợ xanh, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các giải pháp bền vững và năng lượng tái tạo. Việc thúc đẩy các hình thức huy động vốn như trái phiếu xanh và tín dụng ESG sẽ giúp tăng cường khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính cho các doanh nghiệp, từ đó đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh trên phạm vi toàn quốc.
Bà Đặng Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn Năng lượng và Môi trường nhận định, dư nợ tín dụng xanh của Việt Nam hiện tập trung chủ yếu vào lĩnh vực năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong khi các giao dịch trái phiếu xanh chưa có thị trường thứ cấp, chủ yếu là các giao dịch không được công bố rộng rãi.
Qua khảo sát và đánh giá của các chuyên gia, bà Hạnh cho hay để thúc đẩy tài chính xanh tại Việt Nam, giải pháp trọng yếu là xây dựng chiến lược tổng thể về tài chính xanh, đảm bảo sự nhất quán với Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia. Trong đó xác định vai trò của các bên liên quan và thành lập cơ quan đầu mối quốc gia để điều phối việc thực hiện tăng trưởng xanh.
Vị chuyên gia cũng nhấn mạnh việc xây dựng Danh mục phân loại xanh và cơ chế cập nhật định kỳ cần đảm bảo tính linh hoạt và phù hợp với xu thế phát triển công nghệ carbon thấp; hoàn thiện hướng dẫn quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng. Mặt khác, nhà nước cần thiết lập một nền tảng cơ sở dữ liệu quốc gia để theo dõi và công bố thông tin về các sản phẩm tài chính xanh rộng rãi.
"Đây là những nền tảng căn bản giúp hệ thống tài chính xanh có thể hoạt động ổn định, trở thành đòn bẩy cho các dự án xanh hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam", bà Hạnh nói.
Doanh thu sản phẩm bao bì dưới 30 tỷ/năm được loại trừ trách nhiệm EPR
Thiếu cơ chế gắn 'nhãn xanh' cho vật liệu, khó phát triển công trình xanh
(VNF) - Theo các chuyên gia, bên trong một công trình xanh, việc sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường là một yêu cầu bắt buộc. Các vật liệu này phải đảm bảo các yếu tố như là tiêu tốn ít năng lượng, có nguồn gốc tự nhiên…
Sắp áp hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho DN nhiệt điện, thép, xi măng
(VNF) - Theo dự thảo Nghị định số 06/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon, giai đoạn 2025-2026 dự kiến có 150 cơ sở thuộc 3 lĩnh vực: nhiệt điện, sản xuất sắt thép, sản xuất xi măng được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
Doanh thu sản phẩm bao bì dưới 30 tỷ/năm được loại trừ trách nhiệm EPR
(VNF) - Nhóm nhà sản xuất, nhập khẩu bao bì, bao gồm: nhà sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì để xuất khẩu hoặc tạm nhập, tái xuất hoặc sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm; nhà sản xuất, nhập khẩu có doanh thu bán các sản phẩm thuộc nhóm bao bì dưới 30 tỷ đồng/năm;... sẽ được loại trừ trách nhiệm EPR.
Vướng từ tiêu chuẩn đến thực thi: Dòng vốn xanh khó chảy vào nông nghiệp
(VNF) - Dù chính sách tín dụng xanh đã được ban hành và khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, dòng vốn vẫn khó chảy vào nông nghiệp do vướng mắc từ tiêu chuẩn, thẩm định và điều kiện tiếp cận, khiến doanh nghiệp và hợp tác xã chưa thể tận dụng được các ưu đãi hiện có.
Nhật Bản cấp khoản vay ODA 8.350 tỷ cho Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng xanh
(VNF) - Khoản vay ODA thế hệ mới trị giá hơn 8.300 tỷ đồng từ Nhật Bản dự kiến được ký kết trong tháng này, nhằm hỗ trợ Việt Nam hoàn thiện chính sách tài chính xanh, giảm phát thải và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Siết quản lý hạn ngạch và tín chỉ carbon: Hoàn thiện nền tảng cho thị trường 'xanh'
(VNF) - Thông tư mới tạo nền tảng pháp lý và kỹ thuật để thị trường carbon trong nước vận hành giai đoạn thí điểm 2026-2027, trước khi mở rộng bắt buộc tuân thủ hạn ngạch đối với các cơ sở phát thải lớn từ năm 2028.
Gần 2 tỷ USD từ tín chỉ carbon: Bán hết ra nước ngoài hay để dành cho DN trong nước
(VNF) - Việt Nam đứng trước cơ hội thu về tới 1,9 tỷ USD mỗi năm từ bán tín chỉ , khi thị trường phát thải toàn cầu tăng tốc và khung pháp lý trong nước dần hoàn thiện. Tuy nhiên, bài toán lớn đặt ra là cân đối nguồn tín chỉ giữa xuất khẩu và cam kết khí hậu quốc gia.
Thị trường tín chỉ carbon: Nguồn cung thiếu hụt, giá tăng nhanh
(VNF) - Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của thị trường tín chỉ các-bon toàn cầu. Khối lượng giao dịch không còn là thước đo trung tâm; thay vào đó, chất lượng tín chỉ, mức chênh giá theo chất lượng và sự trỗi dậy của nhu cầu phục vụ tuân thủ đang định hình lại cấu trúc, giá trị và chiến lược tham gia thị trường.
Ba định chế tài chính sẽ rót 100 triệu USD tín dụng xanh vào Việt Nam
Tín dụng xanh đang là xu hướng trên thế giới nói chung với kỷ lục vừa đạt mới lên đến 947 tỷ USD. Tại Việt Nam, số tổ chức tín dụng tham gia tăng gấp 4 lần, song số vốn thực tế vẫn còn khiêm tốn.
Nguồn vốn xanh: Động lực mới của tài chính toàn cầu và bài toán cho Việt Nam
(VNF) - Theo các chuyên gia của Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, đầu tư xanh không chỉ là công cụ tài chính nhằm giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường, mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bao trùm, hiệu quả và có trách nhiệm.
'Việt Nam cần 670 – 700 tỷ USD cho tăng trưởng xanh đến 2050'
(VNF) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh, để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh và phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam cần khoảng 670 – 700 tỷ USD vốn đầu tư dài hạn, đòi hỏi phải huy động và đa dạng hóa mạnh mẽ các nguồn lực tài chính ngoài ngân sách, đặc biệt từ tín dụng xanh, thị trường vốn và khu vực tư nhân.
Hải Phòng dự thu hàng trăm triệu USD từ bán chứng chỉ carbon
(VNF) - Hải Phòng có thể thu về 120-250 triệu USD/ năm,với giá tín chỉ carbon trung bình 40 - 50 USD/tấn CO2 trên thị trường quốc tế.












