'Cần mạnh dạn xây dựng hành lang pháp lý cho tài sản và dịch vụ tài chính mới'
(VNF) - Hội thảo "VIFC-DN: Kiến tạo thể chế – Định hình dòng vốn thế hệ mới" là diễn đàn đối thoại chính sách quan trọng, góp phần hoàn thiện cơ chế vận hành và tạo nền tảng để VIFC-DN sớm trở thành điểm đến của các dòng vốn chất lượng cao trong khu vực và trên thế giới.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên và đẩy mạnh xây dựng các động lực tăng trưởng mới, việc phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng (VIFC-DN) được xem là một trong những nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao năng lực huy động nguồn lực tài chính và gia tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Nhằm tạo diễn đàn trao đổi giữa các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính trong và ngoài nước, ngày 30/6, tại Đà Nẵng, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance phối hợp với Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP. Đà Nẵng (VIFC-DN) và Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) tổ chức hội thảo "VIFC-DN: Kiến tạo thể chế – Định hình dòng vốn thế hệ mới".
Hội thảo tập trung thảo luận những vấn đề then chốt trong quá trình xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng, từ thiết kế thể chế, phát triển các sản phẩm tài chính đặc thù đến xây dựng hệ sinh thái fintech, blockchain, tài sản số, quản lý gia sản, tài chính thương mại, tín chỉ carbon và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Sự kiện được kỳ vọng sẽ trở thành diễn đàn đối thoại chính sách quan trọng, góp phần hoàn thiện cơ chế vận hành và tạo nền tảng để VIFC-DN sớm trở thành điểm đến của các dòng vốn chất lượng cao trong khu vực và trên thế giới.

Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, UBND TP. Đà Nẵng, Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng cùng đông đảo chuyên gia kinh tế, nhà khoa học, doanh nghiệp và các định chế tài chính.
Đáng chú ý, nhiều lãnh đạo và chuyên gia đầu ngành sẽ trình bày tham luận về định hướng phát triển VIFC-DN như TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương; ông Trần Chí Cường, Phó chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng cùng đại diện Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Đà Nẵng với các đề xuất nhằm đưa trung tâm sớm đi vào hoạt động hiệu quả.
Bên cạnh đó, hội thảo quy tụ nhiều chuyên gia kinh tế uy tín như PGS.TS Lê Bộ Lĩnh, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam; TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương; TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh; PGS.TS Trần Mạnh Huy, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khóa XVI; TS Nguyễn Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng; PGS.TS Bùi Quang Bình, PGS.TS Đặng Hữu Mẫn (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng); TS, luật sư Lê Thị Dung, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Thương mại miền Trung và TS Bùi Văn Huy, Phó chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Quản lý tài sản FIDT.
Về phía Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, tham dự hội thảo có TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội; ông Hoàng Anh Minh, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội, Tổng biên tập Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance; PGS.TS Nghiêm Thị Thà, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội.
Thông qua các phiên tham luận và thảo luận chuyên sâu, hội thảo sẽ đóng góp nhiều kiến nghị chính sách thiết thực, giúp hoàn thiện thể chế, phát triển các sản phẩm tài chính mới và nâng cao sức hấp dẫn của VIFC-DN đối với các nhà đầu tư quốc tế, qua đó tạo thêm động lực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn mới.

TS Lê Minh Nghĩa: "VIFC-DN là mắt xích chiến lược trong mục tiêu phát triển của đất nước"
8:45
Phát biểu khai mạc hội thảo “VIFC-DN: Kiến tạo thể chế - Định hình dòng vốn thế hệ mới”, TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) nhấn mạnh về bối cảnh của hội thảo hôm nay đặt ra yêu cầu rất cao khi Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026–2030 đạt từ 10% trở lên.
Theo TS Lê Minh Nghĩa, đây là một tham vọng lớn, đòi hỏi sự bứt phá về thể chế và nguồn lực. Riêng với Đà Nẵng, Chính phủ đã yêu cầu thành phố phấn đấu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026. Đây là áp lực lớn, nhưng cũng là cơ hội lớn - và Chiến lược tài chính đến năm 2030 vừa được điều chỉnh đã xác định rõ: Trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do là công cụ then chốt để Đà Nẵng tăng tốc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế, cũng như phát triển thị trường tín chỉ carbon và các sản phẩm tài chính hiện đại...
“Nói cách khác: VIFC-DN không chỉ là một dự án chiến lược trọng điểm của Đà Nẵng mà còn là một mắt xích chiến lược trong mục tiêu phát triển của cả đất nước”, TS Lê Minh Nghĩa đánh giá.

Theo Chủ tịch VFCA, trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, các trung tâm tài chính quốc tế không được tạo ra chỉ bằng vị trí địa lý thuận lợi hay nguồn vốn dồi dào. Singapore, Dubai, Luxembourg - tất cả đều có một điểm chung: thể chế đi trước, dòng vốn đi sau. Thể chế ở đây không chỉ là hệ thống pháp luật. Đó là sự minh bạch trong quản trị, là cơ chế giải quyết tranh chấp đáng tin cậy, là môi trường pháp lý đủ linh hoạt để đón nhận các mô hình kinh doanh mới - từ tài chính số, tài sản mã hóa cho đến tài chính xanh và thương mại xuyên biên giới.
Nhưng bài học từ thực tiễn cũng chỉ rõ một điều: khoảng cách từ chủ trương đến kết quả thực tế luôn là thách thức lớn nhất, đặc biệt với những mô hình đột phá chưa có tiền lệ. Đâu là những cơ chế đặc thù mà VIFC-DN cần được trao? Làm thế nào để Đà Nẵng - với lợi thế cộng hưởng của khu thương mại tự do, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và vị trí địa chiến lược - trở thành cửa ngõ thu hút dòng vốn thế hệ mới? Và VIFC-DN cần đóng góp như thế nào vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả nước cũng như của chính thành phố Đà Nẵng?
“Đây là những câu hỏi mà hội thảo hôm nay đặt ra. Không phải những câu hỏi dễ - nhưng là những câu hỏi đúng”, TS Lê Minh Nghĩa cho biết.
Theo ông, xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế là công việc của nhiều thế hệ. Nhưng những quyết định thể chế trong giai đoạn đầu sẽ định hướng chiến lược toàn bộ quỹ đạo phát triển về sau - đây là bài học mà lịch sử của mọi trung tâm tài chính lớn trên thế giới đều xác nhận.
“Chúng ta đang ở thời điểm đó. Và những gì được thảo luận, đề xuất tại hội thảo hôm nay có thể trở thành một phần của nền tảng đó”, Chủ tịch VFCA nêu rõ.
Hội thảo “VIFC-DN: Kiến tạo thể chế - Định hình dòng vốn thế hệ mới” được tổ chức theo hai phiên làm việc.
Phiên thứ nhất gồm ba tham luận chuyên sâu về định hướng phát triển sản phẩm chủ lực tại VIFC-DN, thiết kế thể chế vượt trội và vai trò của cơ chế sandbox trong phát triển fintech. Đặc biệt, phiên làm việc thứ nhất có sự tham gia của chuyên gia quốc tế đang trực tiếp tham gia kiến tạo VIFC-DN - đây là góc nhìn thực tiễn, cọ xát từ thị trường toàn cầu, rất cần thiết để đặt những thảo luận hôm nay vào đúng tọa độ quốc tế.
Phiên thứ hai là thảo luận bàn tròn với sự tham gia của đông đảo chuyên gia kinh tế, luật học, công nghệ tài chính hàng đầu trong nước. Ba nhóm vấn đề sẽ được mổ xẻ: kiến tạo thể chế, định hình dòng vốn thế hệ mới và các kiến nghị chính sách cụ thể.
Xây dựng VIFC: Đà Nẵng “đi trước, đi ngay” vào các phân khúc tài chính mới
8:55
Phát biểu chào mừng hội thảo, ông Trần Chí Cường, Thành uỷ viên, Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, tái khẳng định trong bối cảnh nhu cầu huy động nguồn lực cho phát triển hạ tầng, đô thị, năng lượng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo của Việt Nam ngày càng gia tăng, việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nhiệm vụ chiến lược.

Theo ông Cường, đây không chỉ là bước đi nhằm đa dạng hóa các kênh tài chính, thu hút đầu tư quốc tế mà còn góp phần hình thành các cơ chế huy động vốn mới cho tăng trưởng kinh tế bên cạnh hệ thống ngân hàng và thị trường vốn truyền thống.
Theo đó, TP. Đà Nẵng đặt định hướng phát triển hướng tới mô hình trung tâm tài chính hiện đại, chủ động “đi trước, đi ngay” vào các phân khúc tài chính mới. Thành phố đặt mục tiêu thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế, phát triển đa dạng các loại hình nhà đầu tư tổ chức, đồng thời thúc đẩy các lĩnh vực mới như giao dịch tín chỉ các-bon quốc tế, mã hóa tài sản thực và các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại theo thông lệ quốc tế, giúp khơi thông và đa dạng hoá kênh dẫn vốn vào nền kinh tế.
Lãnh đạo UBND TP. Đà Nẵng nhìn nhận đây là những lĩnh vực có thể triển khai được sớm gắn với các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để áp dụng hiệu quả khung quản lý rủi ro trong giai đoạn đầu.
“Thông qua hội thảo ngày hôm nay, thành phố Đà Nẵng mong muốn tăng cường kết nối, trao đổi và thúc đẩy hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa các cơ quan quản lý, nhà đầu tư, tổ chức tài chính đối với sự phát triển của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Đà Nẵng”, ông Trần Chí Cường nói.
Theo ông Cường, dù khung pháp lý cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam đã được định hình tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội và các nghị định hướng dẫn của Chính phủ nhưng vẫn còn những khoảng trống cần tiếp tục được lấp đầy, cần những góc nhìn đa chiều từ phía các chuyên gia và doanh nghiệp.
“Ưu tiên hàng đầu của Đà Nẵng hiện nay là khơi thông dòng vốn quốc tế luân chuyển thông qua Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng vào nền kinh tế, phát triển các dự án hạ tầng, dự án quy mô vốn lớn của cả khu vực tư nhân và khu vực công”, Phó chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng nhấn mạnh.
Theo đó, TP. Đà Nẵng mong muốn tiếp thu các ý kiến tư vấn, phản biện có giá trị từ các chuyên gia, nhà khoa học, các định chế tài chính và cộng đồng doanh nghiệp nhằm định hình và phát triển các sản phẩm chủ lực của Trung tâm tài chính quốc tế tại thành phố Đà Nẵng. Lãnh đạo TP nhìn nhận, đây sẽ là những động lực quan trọng để thu hút các dòng vốn thế hệ mới, góp phần tạo dư địa phát triển mới cho nền kinh tế và phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.
“Với tinh thần cầu thị, thành phố Đà Nẵng luôn sẵn sàng lắng nghe những ý kiến phản biện từ các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp để góp phần hoàn thiện thể chế, từng bước hình thành một hệ sinh thái tài chính hiện đại, năng động, biến Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng thực sự trở thành cánh cổng dẫn dắt dòng vốn quốc tế chảy vào Việt Nam phục vụ mục tiêu tăng trưởng 2 con số và những chiến lược dài hạn hơn”, ông Trần Chí Cường khẳng định.
TS Nguyễn Đức Hiển: Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ là kênh huy động vốn mới
9:00
Phát biểu đề dẫn hội thảo, TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, cho biết Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số cho giai đoạn 2026-2030. Đây là mục tiêu đầy tham vọng trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn nhiều biến động, đồng thời đặt ra yêu cầu rất lớn về huy động nguồn lực cho nền kinh tế.
Theo tính toán, tổng nhu cầu vốn của nền kinh tế giai đoạn 2026-2030 vào khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, khu vực nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 8,3-8,5 triệu tỷ đồng. Phần còn lại sẽ phải được huy động từ khu vực tư nhân, doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các quỹ đầu tư quốc tế và các kênh thị trường vốn.
Ước tính nhu cầu huy động vốn từ doanh nghiệp, thị trường vốn, tín dụng và vay nước ngoài lên tới khoảng 20,4 triệu tỷ đồng. Điều này đặt ra áp lực không nhỏ đối với hệ thống ngân hàng.
"Hệ thống ngân hàng phải tính toán làm sao vừa đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng tín dụng phục vụ phát triển kinh tế, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Đây là bài toán không hề đơn giản", TS Hiển nói.

Theo TS Nguyễn Đức Hiển, trong bối cảnh dư địa của các kênh huy động vốn truyền thống ngày càng hạn chế, việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là câu chuyện xây dựng một thiết chế tài chính mới mà còn là giải pháp quan trọng nhằm tạo lập các kênh dẫn vốn mới cho nền kinh tế.
Quốc hội đã ban hành các nghị quyết quan trọng liên quan đến việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế cũng như các cơ chế đặc thù dành cho TP. HCM và TP. Đà Nẵng. Đây là nền tảng pháp lý ban đầu thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, từ việc ban hành chủ trương đến khi Trung tâm tài chính quốc tế có thể vận hành hiệu quả vẫn còn một chặng đường rất dài.
"Chúng ta đã có quyết tâm chính trị rất cao, nhưng để trung tâm thực sự đi vào hoạt động còn rất nhiều việc phải làm. Vẫn còn nhiều vấn đề về thể chế, cơ chế, chính sách cần tiếp tục hoàn thiện để trung tâm trở thành kênh huy động vốn, kênh thử nghiệm các mô hình quản trị mới và tạo động lực phát triển cho nền kinh tế", TS Nguyễn Đức Hiển nhận định và cho biết Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương mong muốn thông qua hội thảo lần này tiếp tục lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, doanh nghiệp và địa phương để hoàn thiện các đề xuất chính sách.
Theo TS Nguyễn Đức Hiển, Kết luận số 18 của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 đã đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các cơ chế vượt trội cho Trung tâm tài chính quốc tế. Song từ chủ trương đến triển khai thực tế chắc chắn sẽ còn nhiều vấn đề cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện.
Một trong những nội dung được TS Nguyễn Đức Hiển đặc biệt nhấn mạnh là yêu cầu đổi mới tư duy quản lý đối với các động lực tăng trưởng mới. Theo TS, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đang tham gia xây dựng nghị quyết mới về phát triển đất nước trong giai đoạn tới, trong đó một nội dung quan trọng là phải thay đổi cách tiếp cận đối với đổi mới sáng tạo.
"Nếu trước đây chúng ta chủ yếu tiếp cận theo hướng thử nghiệm có kiểm soát thì trong thời gian tới cần coi đây là một phương thức phát triển mới, cần mạnh dạn hơn trong hoàn thiện thể chế và pháp luật", TS Hiển nói và cho rằng nếu vẫn giữ cách tiếp cận quá thận trọng thì rất khó tạo ra sức cạnh tranh cho các Trung tâm tài chính quốc tế của Việt Nam.
Bên cạnh việc tiếp tục phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư công, tiêu dùng, xuất khẩu và đầu tư tư nhân, Việt Nam cần nhanh chóng hình thành các động lực tăng trưởng mới dựa trên đổi mới sáng tạo, kinh tế số, tài sản số và thị trường vốn hiện đại. Đây cũng là cơ sở để định vị vai trò của Trung tâm Tài chính quốc tế trong giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.
Theo TS Nguyễn Đức Hiển, sau khi Quốc hội ban hành các nghị quyết liên quan đến Trung tâm Tài chính quốc tế, nhiệm vụ quan trọng nhất trong thời gian tới là tiếp tục hoàn thiện thể chế để các cơ chế đặc thù thực sự đi vào cuộc sống.
TS Hiển cho rằng bên cạnh việc ban hành các nghị quyết, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung nhằm tạo nên một khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho mô hình mới này.
"Tôi rất mong các chuyên gia tiếp tục góp ý xem khung pháp lý hiện nay đã thực sự đủ mạnh hay chưa; mô hình Trung tâm tài chính quốc tế với hai điểm đến đã đủ sức cạnh tranh hay chưa; cơ chế điều hành hiện nay có thực sự phù hợp hay không".
Theo TS Hiển, một trong những nội dung quan trọng nhất cần được tiếp tục hoàn thiện là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Hiện nay, Việt Nam mới chỉ đề cập đến sandbox trong một số luật chuyên ngành như Luật Công nghiệp công nghệ số hay lĩnh vực ngân hàng, song quy định vẫn còn rời rạc và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của Trung tâm tài chính quốc tế. Nhiều ý kiến đang đề xuất cần xây dựng một khuôn khổ pháp lý chung về sandbox ở cấp quốc gia thay vì quy định riêng lẻ theo từng ngành.
"Trung tâm Tài chính quốc tế không chỉ là nơi cung cấp các dịch vụ tài chính mà còn phải là nơi thử nghiệm các mô hình quản trị mới, sản phẩm tài chính mới và công nghệ tài chính mới. Nếu không có cơ chế thử nghiệm đủ linh hoạt thì sẽ rất khó tạo ra sức cạnh tranh", TS Hiển nói.
Tuy nhiên, TS Nguyễn Đức Hiển cũng lưu ý rằng việc thiết kế sandbox luôn phải giải quyết bài toán cân bằng giữa đổi mới sáng tạo và kiểm soát rủi ro. "Nếu quá thận trọng thì sẽ không hấp dẫn nhà đầu tư. Nhưng nếu mở quá nhanh, thiếu cơ chế kiểm soát thì rủi ro đối với hệ thống tài chính cũng rất lớn. Đây là vấn đề chúng tôi rất mong nhận được thêm ý kiến từ các chuyên gia".
Một nội dung khác được TS Nguyễn Đức Hiển dành nhiều thời gian phân tích trong hội thảo hôm nay chính là khung pháp lý đối với tài sản số, fintech và dữ liệu tài chính.
Theo Phó ban Chính sách Chiến lược Trung ương, hiện nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc pháp luật hiện hành đã đủ để điều chỉnh các loại tài sản mới hay chưa; có ý kiến cho rằng chỉ cần hoàn thiện các quy định hiện có, nhưng cũng có quan điểm đề xuất cần xây dựng một khuôn khổ pháp lý hoàn toàn mới.
Ở góc độ Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng Việt Nam cần mạnh dạn hơn trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho các loại tài sản và dịch vụ tài chính mới nếu muốn Trung tâm tài chính quốc tế đủ sức cạnh tranh với các trung tâm trong khu vực.
"Cái gì cần thận trọng thì vẫn phải thận trọng, nhưng những gì có thể mở thì phải mở nhanh hơn để tạo lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua thu hút dòng vốn quốc tế".
Theo TS Nguyễn Đức Hiển, cùng với tài sản số, Việt Nam cũng cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý dòng vốn xuyên biên giới, ngoại hối, dữ liệu tài chính và các cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhằm vừa tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, vừa đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính.

Một trong những vấn đề được TS Nguyễn Đức Hiển đặc biệt quan tâm là mô hình giám sát đối với Trung tâm tài chính quốc tế.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các trung tâm tài chính lớn trên thế giới đều áp dụng mô hình giám sát tổng thể, bao trùm nhiều lĩnh vực như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, thanh toán, tài sản số, dữ liệu tài chính cũng như phòng, chống rửa tiền. Trong khi đó, Việt Nam hiện vẫn đang quản lý theo từng lĩnh vực riêng biệt.
"Đây là câu chuyện rất cần được nghiên cứu. Cơ chế giám sát hiện nay liệu đã đủ đáp ứng yêu cầu của một Trung tâm tài chính quốc tế hay chưa? Có nên xây dựng một mô hình giám sát mang tính liên thông như thông lệ quốc tế hay không?", TS Nguyễn Đức Hiển đặt vấn đề.
Theo TS Hiển, đây không chỉ là vấn đề riêng của TP. HCM hay TP. Đà Nẵng mà là câu chuyện chung của cả quốc gia trong quá trình xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế.
Ngoài thể chế, TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ quyết định sự thành công của Trung tâm tài chính quốc tế.
Hiện nay Việt Nam mới chủ yếu điều động cán bộ từ các sở, ngành hoặc một số trường đại học, viện nghiên cứu tham gia xây dựng mô hình. Tuy nhiên, về lâu dài cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực mang tính quốc tế hơn.
"Không chỉ thu hút một vài chuyên gia mà phải hình thành cả một hệ sinh thái nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện để họ lựa chọn Việt Nam là nơi sinh sống, làm việc lâu dài".
Để làm được điều này, Việt Nam cần đồng bộ nhiều chính sách về môi trường sống, giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện làm việc cũng như các chính sách dành cho gia đình chuyên gia.
"Các trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới đều cạnh tranh bằng chất lượng môi trường sống chứ không chỉ bằng ưu đãi thuế. Đây là vấn đề chúng ta cần đặc biệt quan tâm", TS Hiển nói.
TS Nguyễn Đức Hiển cũng cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các trung tâm tài chính trong khu vực, Việt Nam cần sớm xác định những sản phẩm tài chính chủ lực để tạo lợi thế cạnh tranh, bởi nếu chỉ phát triển những sản phẩm tài chính truyền thống thì rất khó thu hút được dòng vốn quốc tế.
"Chúng ta cần xác định rõ mỗi giai đoạn sẽ ưu tiên phát triển những sản phẩm gì, cơ chế nào cần thay đổi để phù hợp với sự phát triển của thị trường. Nếu không tạo ra được sự khác biệt thì rất khó cạnh tranh với các trung tâm tài chính đã hình thành từ trước”.
Kết thúc bài phát biểu, TS Nguyễn Đức Hiển cho biết Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương mong muốn tiếp tục lắng nghe ý kiến từ các chuyên gia, doanh nghiệp, địa phương và các nhà đầu tư để hoàn thiện các đề xuất chính sách trước khi trình Quốc hội và Chính phủ.
TS Nguyễn Đức Hiển đánh giá cao vai trò của Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam và Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance trong việc tổ chức các diễn đàn khoa học, góp phần kết nối tiếng nói của giới chuyên gia với quá trình xây dựng chính sách.
"Việt Nam là nước đi sau nên càng phải làm nhanh hơn, quyết liệt hơn. Nếu không tạo được những cơ chế đủ đột phá và đủ sức cạnh tranh thì sẽ rất khó thu hút được dòng vốn quốc tế cũng như phát huy vai trò của Trung tâm tài chính quốc tế trong giai đoạn phát triển mới", TS Nguyễn Đức Hiển khẳnh định quan điểm.
VIFC-DN: Cửa ngõ tài chính hiện đại với 5 sản phẩm ưu tiên
9:25
Chia sẻ tại hội thảo, ông Kevin Bruce Iwanaga, Trưởng ban Chiến lược và Tổng hợp - Cơ quan điều hành VIFC-DN, nhận định Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mang tính bản lề. Để duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, nền kinh tế cần tiếp tục mở rộng cộng đồng doanh nghiệp, gia tăng nhu cầu đầu tư hạ tầng và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư toàn cầu.
Đồng thời, hệ thống tài chính quốc tế cũng đang chuyển mình nhanh chóng. Dòng vốn ngày càng được số hóa, có tính xuyên biên giới cao hơn, hướng mạnh hơn tới phát triển bền vững, đồng thời đặt ra những yêu cầu khắt khe hơn về tính minh bạch, sự tin cậy của khung pháp lý và hạ tầng thị trường tài chính đạt chuẩn quốc tế.
Theo ông Kevin Bruce Iwanaga, điều này mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam, đặc biệt là thành phố Đà Nẵng.
“VIFC-DN không đơn thuần là việc hình thành thêm một trung tâm tài chính hay một nền tảng quản lý mới. Mục tiêu của VIFC-DN là xây dựng một cửa ngõ tài chính hiện đại, kết nối dòng vốn toàn cầu với nền kinh tế thực của Việt Nam. Qua đó, dòng vốn sẽ được định hướng vào các lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị như hạ tầng, doanh nghiệp, thương mại, phát triển xanh, công nghệ, nông nghiệp, logistics, năng lượng và tăng trưởng kinh tế vùng”, ông nhấn mạnh.

Ông Kevin Bruce Iwanaga cho biết VIFC-DN tập trung vào 5 sản phẩm ưu tiên, qua đó tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển ban đầu của VIFC-DN. Các sản phẩm này bao gồm: token hóa tài sản thực; tín chỉ carbon và sàn giao dịch tín chỉ carbon; sàn giao dịch hàng hóa; quỹ đầu tư và quản lý tài sản; thị trường trái phiếu.
Theo đại diện VIFC-DN, mỗi sản phẩm sẽ đảm nhận một vai trò riêng trong nền kinh tế. Chẳng hạn như token hóa tài sản có thể giải phóng thanh khoản từ các tài sản thực và các dự án hạ tầng, qua đó giúp quá trình huy động vốn trở nên hiệu quả hơn và dễ tiếp cận hơn đối với nhà đầu tư.
Trong khi đó, tín chỉ carbon và sàn giao dịch tín chỉ carbon có thể chuyển hóa vốn tự nhiên của Việt Nam, quá trình chuyển dịch sang năng lượng tái tạo và các dự án khí hậu có tính toàn vẹn cao thành những tài sản đầu tư hấp dẫn, kết nối trực tiếp với nhu cầu của thị trường toàn cầu.
Sàn giao dịch hàng hóa có thể góp phần nâng cao tính minh bạch về giá, hỗ trợ tài trợ thương mại, tăng cường quản trị rủi ro và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.
Lĩnh vực quỹ đầu tư và quản lý tài sản có thể thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư, tổ chức, đồng thời hình thành các phương tiện đầu tư được quản lý chuyên nghiệp, góp phần phát triển chiều sâu của thị trường vốn Việt Nam.
Còn thị trường trái phiếu có thể cung cấp nguồn vốn dài hạn cho phát triển hạ tầng, các dự án đầu tư công và sự tăng trưởng của doanh nghiệp.
“Khi được triển khai một cách đồng bộ, 5 sản phẩm này không phải là những sáng kiến riêng lẻ mà sẽ là 5 trụ cột có thể bổ trợ lẫn nhau trong một hệ sinh thái huy động vốn hiện đại. 5 sản phẩm này sẽ giúp VIFC – DN thu hút dòng vốn quốc tế, cấu trúc lại nguồn vốn thông qua các sản phẩm tài chính và phân bổ hiệu quả nguồn vốn vào nền kinh tế thực. Từ đó, VIFC-DN có thể tạo ra công ăn việc làm, hỗ trợ doanh nghiệp, tăng cường phát triển hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn”, ông Kevin Bruce Iwanaga nhấn mạnh.
Chia sẻ thêm, đại diện Cơ quan điều hành VIFC-DN cho biết 5 sản phẩm ưu tiên này cần được định vị như một hệ thống tăng trưởng tích hợp. Mục tiêu không chỉ là ra mắt các sản phẩm trên thị trường, mà còn là tạo ra cơ sở hạ tầng đáng tin cậy để thu hút dòng vốn từ các tổ chức và định hướng dòng vốn này vào hoạt động sản xuất trong nền kinh tế thực, hỗ trợ doanh nghiệp và quá trình chuyển đổi các dự án.
Thông qua các sản phẩm chủ lực này, VIFC-DN có thể tiếp cận nguồn vốn, từ đó giảm bớt các rào cản cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tổ chức phát hành và lĩnh vực hạ tầng. Độ sâu thị trường và tính thanh khoản cũng sẽ được nâng cao khi các sản phẩm này được triển khai. Bên cạnh đó, tính minh bạch sẽ được cải thiện thông qua hồ sơ, quá trình thẩm định giá và sự giám sát của cơ quan quản lý.
Theo ông, Việt Nam hiện cần phát triển sâu rộng hơn các tổ chức tài chính phi ngân hàng với tư cách là kênh huy động vốn để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư. Kỳ vọng của VIFC-DN là tạo ra tác động dài hạn, với nguồn vốn dài hạn dồi dào hơn, hệ thống tài chính phi ngân hàng sâu rộng hơn, chất lượng dự án được định giá tốt hơn, thân thiện hơn với môi trường và nền kinh tế được quản lý chặt chẽ hơn, cùng với giá trị tài chính cao hơn cho hệ sinh thái dịch vụ tài chính.
“Việt Nam hiện có tốc độ tăng trưởng rất nhanh và VIFC có thể hỗ trợ cho sự tăng trưởng này. Năm sản phẩm ưu tiên được trình bày sẽ trực tiếp giải quyết các vấn đề về mở cửa thị trường, độ sâu của thị trường vốn, huy động nguồn vốn đầu tư và tạo ra những đổi mới để dẫn dắt tăng trưởng. Vấn đề đặt ra là cần làm thế nào để kêu gọi vốn tốt hơn và làm cho thị trường vốn sâu hơn, qua đó có thể tài trợ cho phát triển hạ tầng, khu vực tư nhân và thu hút nguồn đầu tư nước ngoài chất lượng cao”, đại diện Cơ quan điều hành VIFC-DN nhấn mạnh.
Lợi ích riêng biệt của từng sản phẩm
9:50
Theo ông Kevin Bruce Iwanaga, 5 sản phẩm của VIFC-DN sẽ dùng chung một nền tảng hạ tầng. Thông qua nền tảng hạ tầng dùng chung, chi phí có thể thấp hơn và quá trình triển khai các sản phẩm được đẩy nhanh hơn. Điều này sẽ mang lại giá trị cho thị trường, bao gồm các lợi ích xã hội, tạo công ăn việc làm, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như tạo cơ sở hạ tầng cho chuyển đổi khí hậu.
Điều quan trọng là logic dòng vốn với 5 sản phẩm cốt lõi này có thể giúp đầu tư vào các tài sản đã được tiêu chuẩn hóa và giảm thiểu rủi ro. Nguồn vốn có thể được sử dụng để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các dự án xanh và các dự án thương mại.
“Do đó, VIFC-DN có thể xác định vị thế của mình bằng cách giúp tài sản của Việt Nam trở nên minh bạch hơn, có khả năng huy động vốn, có thể giao dịch và có thể quản lý được đối với các nhà đầu tư trong nước và quốc tế”, ông cho hay.
Theo các tiêu chuẩn quốc tế, thị trường sẽ tiêu chuẩn hóa các dịch vụ lưu ký, xác minh, đồng thời thu hút dòng vốn thông qua các quỹ, trái phiếu và các đợt phát hành để tài trợ cho hàng hóa và các nguồn lực khác từ các tổ chức. Nguồn vốn này sẽ được chuyển đến các dự án, nhà sản xuất, nhà xuất khẩu và doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Sau đó, thị trường sẽ đạt đến giai đoạn trưởng thành, nơi có sự tái đầu tư và tính thanh khoản. Đây là giai đoạn thị trường thứ cấp, bao gồm tái cấp vốn, thoái vốn quỹ, các giao dịch trung gian và tái đầu tư vào các chương trình luân chuyển vốn liên tục.
Đối với sản phẩm đầu tiên trong lộ trình xây dựng VIFC-DN - token hóa tài sản thực, ông Kevin Bruce Iwanaga nhận định token hóa có thể chuyển đổi các khoản nợ có kỳ hạn dài thành các tài sản có thể đầu tư trên thị trường vốn. Vai trò của VIFC-DN là hợp pháp hóa, tiêu chuẩn hóa và giám sát các tài sản thực đã được token hóa, thay vì chỉ đơn thuần coi những tài sản này là tài sản không được quản lý như tiền điện tử.
Các tài sản thực được token hóa sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế, cho phép đầu tư vào cơ sở hạ tầng, bất động sản, các khoản phải thu và các dự án xanh. Đồng thời, hoạt động này sẽ làm giảm chi phí phát hành và phân phối, cải thiện khả năng tham gia của nhà đầu tư, tăng tính minh bạch trong quá trình xác định giá và tạo ra dòng vốn cho hoạt động lưu ký, xác minh, giao dịch và các hoạt động liên quan khác.
Về lợi ích xã hội, token hóa tài sản sẽ mở rộng cơ hội đầu tư trong điều kiện tuân thủ các quy định phù hợp, nâng cao tính minh bạch thông qua các quy trình có thể kiểm soát, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ về vốn lưu động và tài chính cho các dự án. Đồng thời, quá trình này cũng góp phần xây dựng các công nghệ tài chính có giá trị cao và tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực lưu ký cũng như các quy định liên quan.
“Quá trình token hóa tài sản sẽ chuyển đổi tài sản thành các tài sản công khai, có tính thanh khoản cao và có thể đầu tư được. Điều này cho phép sử dụng số tiền thu được để tài trợ cho phát triển cơ sở hạ tầng, bất động sản và các lĩnh vực kinh doanh, sản xuất khác”, ông nói.
Đối với sản phẩm thứ hai, ông Kevin Bruce Iwanaga cho biết trọng tâm được đặt vào hệ sinh thái tín chỉ carbon và sàn giao dịch carbon – một cấu phần được xem là hạ tầng tài chính mới có khả năng tạo ra nguồn thu từ năng lượng sạch.
Theo ông, mô hình này không chỉ mở ra dòng doanh thu mới cho các nhà phát triển dự án mà còn mang lại cơ hội lớn cho các địa phương có lợi thế về tài nguyên rừng, thông qua việc thương mại hóa tín chỉ carbon. Không chỉ dừng ở khía cạnh tài chính, hệ sinh thái carbon còn được kỳ vọng trở thành công cụ thu hút nguồn vốn khí hậu vào các dự án năng lượng tái tạo, đồng thời thúc đẩy hệ thống đo lường, báo cáo và xác minh (MRV) minh bạch hơn. Đây cũng được xem là một trong những nền tảng quan trọng để hỗ trợ Việt Nam thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.
Bên cạnh carbon, ông Kevin cũng nhấn mạnh vai trò của sàn giao dịch hàng hóa như một cấu phần quan trọng trong việc tối ưu hóa dòng vốn. Theo đó, hàng tồn kho, biên lai kho bãi và sản lượng tương lai có thể được chuyển hóa thành tài sản thế chấp đủ điều kiện vay vốn ngân hàng. Cơ chế này, theo ông, sẽ giúp nâng cao khả năng tiếp cận vốn lưu động cho các nhà xuất khẩu, thương nhân, nông dân và đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), đồng thời cung cấp thêm công cụ phòng ngừa rủi ro thương mại trong bối cảnh biến động toàn cầu.
Ở lĩnh vực quản lý quỹ và tài sản, vị chuyên gia quốc tế cho rằng đây sẽ là “cầu nối” để chuyển hóa sự quan tâm của nhà đầu tư thành nguồn vốn tổ chức có thể mở rộng quy mô. Nguồn vốn này sau đó được giải ngân trực tiếp vào nền kinh tế thực, tạo thêm việc làm, thu hút FDI và thúc đẩy tăng trưởng GDP. Một trụ cột khác được đề cập là nền tảng thị trường trái phiếu, bao gồm trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương. Theo ông Kevin, nền tảng này sẽ đóng vai trò bổ trợ cho thị trường nội địa nhưng vận hành trên các tiêu chuẩn quốc tế về công bố thông tin, niêm yết, phân phối và thanh toán bù trừ.
“VIFC-DN sẽ là cây cầu mới nhất và lớn nhất kết nối Đà Nẵng với nguồn vốn toàn cầu”
10:05
Đáng chú ý, ông Kevin Bruce Iwanaga cho biết VIFC-DN đang bước vào giai đoạn chuyển tiếp quan trọng, từ xây dựng nền tảng pháp lý sang triển khai cụ thể từng sản phẩm.
“Chúng ta đang dịch chuyển rất nhanh từ giai đoạn xây dựng nền tảng pháp lý sang giai đoạn triển khai chi tiết từng sản phẩm”, ông nhấn mạnh.
Theo ông, với nền tảng từ Nghị quyết 222 được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2025 cùng các nghị định hướng dẫn, Đà Nẵng hiện đã có cơ sở pháp lý ban đầu để xây dựng thể chế và chuẩn bị thử nghiệm các sản phẩm tài chính theo cơ chế Sandbox.
Tuy nhiên, để tạo dựng niềm tin với nhà đầu tư quốc tế, yếu tố cốt lõi không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở hành lang pháp lý. Ông cho rằng cả 5 sản phẩm chiến lược đều cần được bảo đảm bằng một Đạo luật Ủy thác (Trust Act), cùng với tính chắc chắn về pháp lý, minh bạch trong quản trị và sự toàn vẹn của thị trường.
Khép lại phần tham luận, ông Kevin Bruce Iwanaga định vị VIFC-DN như một “cửa ngõ” mới của Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn kỹ thuật số, tài chính xanh và đầu tư vào nền kinh tế thực.
Mượn hình ảnh biểu tượng của địa phương, ông ví von: “Đà Nẵng vốn được biết đến là thành phố của những cây cầu. Cầu nối vốn VIFC-DN sẽ là cây cầu mới nhất và lớn nhất, đóng vai trò là cửa ngõ kết nối Đà Nẵng với nguồn vốn toàn cầu, sự đổi mới và tăng trưởng dài hạn”.
Khép lại bài phát biểu, vị chuyên gia quốc tế gây ấn tượng khi trích dẫn câu ca dao Việt Nam: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, như một thông điệp nhấn mạnh tinh thần hợp tác và đồng hành trong hành trình xây dựng trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng.
“VIFC là cuộc chơi của thể chế, không phải cuộc đua ưu đãi”
10:06
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC) là cơ hội để Việt Nam bước vào một "cuộc chơi khác thường" nơi cạnh tranh không còn dựa trên những lợi thế truyền thống mà bằng thể chế, năng lực đổi mới và sự khác biệt.
Theo ông, Việt Nam hoàn toàn có đủ "độ lớn" để tham gia sân chơi này. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải dám lựa chọn một cách tiếp cận mới. Nếu vẫn đi theo quỹ đạo cũ, tiếp tục vận hành bằng những lợi ích và tư duy cũ thì nguy cơ bỏ lỡ cơ hội là rất lớn.
"Điều chúng ta cần không phải là thêm một vài cơ chế ưu đãi hay những chính sách xin - cho. Cái cần là thay đổi chính chân dung phát triển của mình để có thể bay lên", ông nói.

Trong góc nhìn của chuyên gia kinh tế, bài toán cốt lõi của VIFC không nằm ở quy mô công trình hay những dự án đầu tư lớn, mà nằm ở thể chế. Theo ông, VIFC không phải là một tòa nhà, mà phải là một hệ sinh thái hoàn chỉnh với một hệ thống thể chế đủ hiện đại để vận hành theo chuẩn mực quốc tế.
"Nếu không tạo ra được một thể chế mới thì rất khó tạo ra một trung tâm tài chính quốc tế đúng nghĩa", ông nhấn mạnh.
Đối với Đà Nẵng, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng thách thức lớn nhất vẫn là thiết kế thể chế. Thành phố cần được trao quyền chủ động nhiều hơn trong tổ chức và vận hành VIFC. Chỉ khi có một cơ chế đủ mới, đủ linh hoạt và khác biệt thì mới có thể giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tạo ra năng lực cạnh tranh thực sự.
Theo ông, điều đáng ghi nhận là Đà Nẵng đang thể hiện quyết tâm rất lớn khi liên tục tổ chức các hội thảo, mời nhiều chuyên gia quốc tế tham gia góp ý. Là quốc gia đi sau, Việt Nam càng cần tận dụng tối đa kinh nghiệm của thế giới.
"Tôi luôn cho rằng đi sau không có nghĩa là sao chép. Đi sau là để học nhanh hơn, chọn lọc những gì phù hợp nhất với điều kiện của mình", ông chia sẻ.
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, ông cho biết Singapore luôn coi thể chế là lĩnh vực phải liên tục thử nghiệm và đổi mới. Israel cũng không ngừng sáng tạo trong chính sách để thúc đẩy đổi mới. Thượng Hải thành công nhờ xây dựng khu thương mại tự do với những cơ chế đặc biệt, qua đó thu hút dòng vốn và hình thành hệ sinh thái logistics đồng bộ.
Đặc biệt, theo ông, Hồng Kông tạo dựng được vị thế trung tâm tài chính quốc tế nhờ niềm tin pháp lý. Nhà đầu tư tin tưởng vì biết các giao dịch được bảo vệ bằng luật pháp minh bạch, cơ chế trọng tài quốc tế độc lập và những chuẩn mực vận hành rõ ràng.
"Điều hấp dẫn nhà đầu tư không chỉ là ưu đãi, mà chính là niềm tin vào thể chế", ông nhấn mạnh.
Từ những bài học đó, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng Việt Nam cần mạnh dạn thiết kế một mô hình phù hợp với điều kiện của mình, thay vì cố gắng sao chép nguyên mẫu của bất kỳ quốc gia nào.
Ông cũng lưu ý, nếu VIFC được triển khai tại cả Đà Nẵng và TP. HCM thì nên nghiên cứu theo hướng hai trung tâm có định vị độc lập, bổ trợ lẫn nhau thay vì cạnh tranh trực tiếp. Mỗi trung tâm cần có sản phẩm riêng, lợi thế riêng và cơ chế vận hành riêng.
Với Đà Nẵng, ông gợi mở thành phố có thể tiên phong ở những lĩnh vực mới như tài chính xanh hay các sản phẩm tài chính thế hệ mới. Là người đi sau, Đà Nẵng càng cần tạo ra sự khác biệt để có cơ hội vượt lên.
"Tôi nghĩ Đà Nẵng hoàn toàn có thể đặt mục tiêu vượt lên TP. HCM ở một số lĩnh vực chuyên biệt. Nhưng muốn vậy phải có sản phẩm khác biệt và phải dám đi trước", ông nói.
Theo ông, trở ngại lớn hiện nay không chỉ là năng lực mà còn là tâm lý e ngại đổi mới. Nếu không có cơ chế bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm thì rất khó tạo ra đột phá.
"Chúng ta cứ sợ thì sẽ đứng yên. Muốn bước vào cuộc chơi mới phải chấp nhận đổi mới và phải có thể chế bảo vệ đổi mới", ông chia sẻ.
Bên cạnh đó, ông cho rằng quá trình xây dựng VIFC cũng cần đi cùng với một cơ chế giám sát minh bạch, quản trị hiện đại và kiểm soát rủi ro hiệu quả. Thể chế càng mở thì yêu cầu về minh bạch và quản trị càng cao.
Theo thông tin được chia sẻ tại hội thảo, VIFC Đà Nẵng hiện đã có 12 thành viên tham gia, 11 nhà đầu tư đã được chấp thuận chủ trương và 9 nhà đầu tư khác đang tìm hiểu cơ hội hợp tác. Đây là tín hiệu tích cực, song theo PGS.TS Trần Đình Thiên, thu hút đầu tư chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ vẫn là xây dựng được một nền tảng thể chế đủ mạnh để các nhà đầu tư yên tâm đồng hành lâu dài.
"Khi Đà Nẵng đề xuất một thể chế mới, đó không phải là xin cơ chế để hưởng lợi cho riêng mình, mà là xin cơ chế để làm những việc khó cho quốc gia, mở đường cho một giai đoạn phát triển mới của Việt Nam. Nếu làm được điều đó, VIFC sẽ không chỉ là câu chuyện của Đà Nẵng mà còn là động lực phát triển mới của cả đất nước", ông kết luận.
THẢO LUẬN
10:30
Mở đầu phiên thảo luận tại hội thảo về Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN) TS Võ Trí Thành cho rằng quá trình xây dựng mô hình trung tâm tài chính quốc tế của Việt Nam đang bước vào giai đoạn bản lề, khi từ ý tưởng đã chuyển sang hình hài thể chế và bắt đầu đi vào thực thi.
Theo ông Thành, ý tưởng về trung tâm tài chính đã được đặt ra từ khoảng 25 năm trước, song phải đến thời gian gần đây mới thực sự có bước tiến rõ rệt. Đến nay, Việt Nam đã hình thành bộ khung pháp lý nền tảng với Nghị quyết của Quốc hội cùng 8 nghị định hướng dẫn của Chính phủ, đồng thời thiết lập bộ máy vận hành, bao gồm cơ chế giám sát, điều hành và xử lý tranh chấp.
“Điều quan trọng nhất bây giờ không còn là chúng ta đã có gì, mà là sắp tới sẽ làm gì và làm như thế nào”, ông Thành nhấn mạnh.

Đà Nẵng kiến nghị sớm lập cơ quan giám sát cho VIFC-DN
10:32
Theo ông Võ Trí Thành, câu hỏi lớn đặt ra hiện nay là lựa chọn cách tiếp cận phù hợp: liệu nên “xóa đi làm lại” để thiết kế một mô hình hoàn toàn mới hay tiếp tục cải thiện trên nền tảng hiện có. Bên cạnh đó, nếu xác định phải tạo đột phá, điều quan trọng là phải xác định rõ mục tiêu và thiết kế được cơ chế thực thi hiệu quả.
Trả lời vấn đề này, bà Huỳnh Liên Phương, Phó chánh Văn phòng UBND TP. Đà Nẵng, Chánh Văn phòng Cơ quan điều hành VIFC-DN cho biết, hiện đã có 12 thành viên được cấp phép, 11 thành viên được cấp chứng nhận ghi nhận sự quan tâm và thêm 12 hồ sơ đang trong quá trình xem xét. Theo bà, số lượng nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm tới VIFC Đà Nẵng hiện rất lớn, cho thấy kỳ vọng đáng kể dành cho mô hình này.
Tuy nhiên, lý do khiến các thành viên được cấp phép vẫn chưa thể hoạt động nằm ở điểm nghẽn lớn nhất là khung pháp lý.
Theo bà Phương, về mặt lý thuyết, Việt Nam đã có nền tảng pháp lý ban đầu, nhưng khi đưa vào thực tế vẫn còn nhiều khoảng trống và vướng mắc, đặc biệt với Đà Nẵng – nơi được định vị là “phòng thí nghiệm” cho các sản phẩm tài chính mới.
“Các sản phẩm tài chính tại Đà Nẵng đều là những mô hình rất mới. Vì vậy, chúng tôi đang phối hợp với TP. HCM và các bộ, ngành trung ương để kiến nghị bổ sung, điều chỉnh một số nội dung trong các nghị định hướng dẫn Nghị quyết 222”, bà Phương cho biết.

Bên cạnh đó, đại diện cơ quan điều hành VIFC-DN cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải sớm hình thành một cơ quan giám sát độc lập, vận hành song song với cơ quan điều hành.
“Cơ quan giám sát này nên được đặt ở cấp trung ương, đồng thời có đại diện tại cả Đà Nẵng và TP. HCM để bảo đảm việc triển khai thuận lợi hơn”, bà Huỳnh Liên Phương nói.
Theo vị chuyên gia, cơ chế giám sát là yếu tố then chốt để kiểm soát rủi ro, bảo đảm tuân thủ pháp lý và xây dựng niềm tin cho nhà đầu tư, đặc biệt trong các vấn đề nhạy cảm như chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố và bảo đảm tính toàn vẹn của thị trường.
Ngoài ra, để bộ máy điều hành vận hành hiệu quả, Đà Nẵng cũng đang kiến nghị trung ương sớm ban hành quy chế hoạt động riêng cho cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam, qua đó làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm và nâng cao hiệu quả thực thi.
Đồng quan điểm, ông Võ Trí Thành cho rằng những vướng mắc hiện nay tập trung ở hai trục chính: một là khả năng triển khai thực chất các hoạt động của trung tâm tài chính; hai là sự phối hợp và phân quyền giữa trung ương và địa phương. Theo ông, đây sẽ là những vấn đề mang tính quyết định đối với tốc độ và hiệu quả triển khai mô hình VIFC trong giai đoạn tới.
TS Nguyễn Đình Cung: Phải có thể chế vượt trội cho VIFC
10:40
Trả lời cho câu hỏi về việc xây dựng cơ chế cho trung tâm tài chính như thế nào, theo TS Nguyễn Đình Cung, trước hết cần hiểu rõ về “thể chế vượt trội”.
“Chúng ta phải hiểu rõ ‘thể chế vượt trội’ thực chất là gì và vượt trội là so với ai? Nếu không định nghĩa được điều đó thì rõ ràng chúng ta sẽ không có nội hàm và định hướng để đi
“Theo tôi, để có thể chế vượt trội, đầu tiên chúng ta phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản. Những nguyên tắc cơ bản đó các trung tâm tài chính quốc tế đã có sẵn, cho nên chúng ta phải áp dụng chúng. Sau đó, trên nền tảng ấy, chúng ta mới thiết kế sự vượt trội của mình. Ví dụ như thể chế tốt hơn, xử lý tranh chấp tốt hơn, quản trị tốt hơn, hay tài sản và hàng hóa khác biệt, nghĩa là những thứ mà chúng ta thấy sự vượt trội của mình nằm ở đó”, ông nói.
TS Nguyễn Đình Cung kiến nghị Việt Nam cần ban hành một Luật về Trung tâm tài chính quốc tế. “Đây là đạo luật riêng của Việt Nam, có đầy đủ những nội dung căn bản với cách tiếp cận quản lý theo hệ thống”, ông cho hay.

Tiếp đến là tăng cường năng lực thực thi. Theo ông Cung, phải tách thành hai trung tâm độc lập và bộ máy điều hành bao gồm những con người chuyên trách, chuyên nghiệp, đạt đẳng cấp quốc tế. Đồng thời, quy chế điều hành phải khác biệt. “Đây không phải là vượt trội mà là khác biệt so với mô hình hiện nay của chúng ta và phải phân cấp, phân quyền thật sự triệt để cho cơ quan điều hành”, ông cho hay.
Cuối cùng, để cơ quan điều hành hoạt động hiệu quả, việc thiết lập một bộ máy giám sát là điều cần thiết. “Bộ máy này phải thuộc trung ương quản lý để chia sẻ trách nhiệm. Còn bây giờ, nếu làm bất cứ việc gì mà không thấy có sự chia sẻ trách nhiệm thì cũng không ai dám làm cả”, TS Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.
Theo vị chuyên gia này, Trung tâm Tài chính quốc tế phải thực hiện được những điều trên trước khi tính đến phát triển sản phẩm. Những yếu tố nền tảng này chưa có thì sản phẩm sẽ không thể vận hành được. Khi đó, các nhà đầu tư cũng chưa biết đến phải làm gì và có thể có lo ngại, dẫn đến việc họ chỉ dừng lại ở mức độ thể hiện sự quan tâm chứ không tham gia vào Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam.
Liên quan đến vấn đề này, TS Võ Trí Thành chia sẻ thêm: “Khi nhìn vào sự vượt trội, chúng ta nhìn vào tất cả mọi thứ nhưng lại quên mất một điều quan trọng nhất: phải bắt đầu từ nhà đầu tư và thị trường. Có một điểm rất hay là khi chúng ta đàm phán để xây dựng khuôn khổ hành chính, các nhà đầu tư lớn nhất trên thế giới đầu tiên lại lựa chọn Đà Nẵng chứ không phải Thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù nếu xét về điều kiện thì Thành phố Hồ Chí Minh hơn Đà Nẵng rất nhiều, nhưng cả hai nơi hiện nay đều còn yếu”.
Ông Thành cho biết vì Trung tâm tài chính là một sandbox lớn của quốc gia, nên hiện nay trên thế giới có ba cách tiếp cận. Cách tiếp cận thứ nhất là tiên phong, đi đầu như Singapore. Cách tiếp cận thứ hai được đa số các nước lựa chọn là cẩn trọng hơn một chút, tức là vừa làm vừa nghe ngóng. Cách tiếp cận thứ ba là kiểu rụt rè nhất, tức là chờ cho họ làm xong hết rồi, xem thế nào mới học hỏi theo.
“Đó là lý do vì sao sandbox trong các lĩnh vực fintech của chúng ta lại chậm đến như vậy. Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam chưa dám nói là sẽ tiên phong như Singapore nhưng chắc chắn chúng ta phải cố gắng ít nhất là ở mức giữa, tức cách tiếp cận thứ hai”, ông Thành cho hay.
PGS.TS Lê Bộ Lĩnh: Điều quan trọng nhất là phải thực hiện đúng tinh thần "tướng quân tại ngoại"
10:45
TS Võ Trí Thành đặt vấn đề: Khâu yếu nhất để chuyển hoá từ chủ trương chính sách thành hiện thực là gì?
Trả lời cho điều này, PGS.TS Lê Bộ Lĩnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Kinh tế, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cho rằng đây là một câu hỏi khó vì chạm đến điểm yếu lớn nhất trong khâu thực thi của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Vấn đề không nằm ở mô hình Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) mà nằm ở năng lực thực thi.
Ông Lĩnh cho rằng cần nhìn nhận nguyên nhân từ gốc. Trước đây, khi làm bài toán, việc đầu tiên là phải xem đề bài có đúng hay không. Người giỏi không phải là người lao vào giải ngay mà phải kiểm tra xem đề bài có đầy đủ giả định, có hợp lý hay không. Nếu đề bài chưa đúng mà cứ cố giải thì sẽ rơi vào bế tắc.
Xây dựng thể chế cũng vậy. Trước khi bàn đến thực thi, cần đánh giá xem hệ thống pháp luật có khả thi hay không. Nếu khung pháp lý chưa hợp lý thì quá trình triển khai chắc chắn sẽ phát sinh nhiều vướng mắc.
Áp vào câu chuyện IFC hiện nay có thể thấy vẫn tồn tại những điểm chưa thống nhất. Ban đầu, ông Nguyễn Đình Cung đặt vấn đề là "một trung tâm, hai điểm đến" hay "hai trung tâm". Nghị quyết số 222 của Quốc hội sử dụng khái niệm "thành lập Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam", nhưng đồng thời lại xác định hai địa điểm là TP.HCM và Đà Nẵng. Sau đó, Nghị quyết 323 của Chính phủ lại đề cập đến việc thành lập trung tâm tài chính quốc tế tại TP. HCM và tại Đà Nẵng. Như vậy, cần làm rõ đây là một trung tâm hoạt động tại hai địa điểm hay là hai trung tâm tài chính quốc tế độc lập.
Nếu chỉ có một luật chung thì sẽ được hiểu là IFC tại Đà Nẵng và IFC tại TP.HCM cùng vận hành theo một khuôn khổ pháp lý, và sau này thậm chí có thể mở rộng sang các địa phương khác như Cần Thơ. Đây là một vấn đề cần được làm rõ ngay từ đầu.
Một điểm khác liên quan đến thể chế là Nghị quyết 259 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị và thí điểm một số cơ chế đặc thù của TP. Đà Nẵng trong các lĩnh vực tài chính, ngân sách, đầu tư và khoa học - công nghệ. Theo ông Lĩnh, nghị quyết này chỉ tạo điều kiện để vận dụng vào việc xây dựng IFC chứ không phải là văn bản điều chỉnh trực tiếp hoạt động của IFC, bởi trung tâm tài chính sẽ vận hành theo các quy định của Chính phủ. Nghị quyết 222 của Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết 19 nội dung. Ông Lĩnh cho rằng nên ban hành một nghị định thống nhất để hướng dẫn thực hiện toàn bộ 19 nội dung này, thay vì ban hành tới 19 nghị định riêng lẻ, nhằm tránh chồng chéo và tạo thuận lợi cho quá trình triển khai.
Vấn đề thứ hai là điều kiện thực hiện. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến nhiều chính sách khó đi vào cuộc sống hoặc thực thi kém hiệu quả. Theo ông LĨnh, hiện nay, chúng ta đang xây dựng trung tâm tài chính nhưng vẫn còn thiếu rất nhiều điều kiện nền tảng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, một trung tâm tài chính hiện đại phải dựa trên nền tảng fintech, dữ liệu và hạ tầng số. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu, hạ tầng công nghệ và các điều kiện kỹ thuật phục vụ cho mô hình này vẫn còn nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó còn thiếu các điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nhiều yếu tố hỗ trợ khác. Đây là những điểm nghẽn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng triển khai.
Vấn đề thứ ba là bộ máy và nguồn nhân lực vận hành. Hiện nay, chúng ta đang trong giai đoạn sắp xếp, tinh gọn bộ máy, chính quyền địa phương hai cấp mới đi vào hoạt động, nhiều cơ quan vẫn đang trong quá trình ổn định tổ chức. Điều này cũng tạo ra không ít khó khăn cho việc triển khai IFC.
Ngoài ra, nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ vận hành trung tâm tài chính vẫn còn thiếu, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực tài chính quốc tế, fintech cũng như các sản phẩm tài chính hiện đại. Đây đều là những vấn đề cần được giải quyết nếu muốn trung tâm tài chính hoạt động hiệu quả.
Về câu hỏi có cần một nghị quyết chung hay không, ông Lĩnh cho rằng quan trọng là phải bảo đảm tính độc lập và quyền tự chủ của từng trung tâm. Điều quan trọng nhất là phải thực hiện đúng tinh thần "tướng quân tại ngoại". Nghĩa là cần trao đủ thẩm quyền cho người đứng đầu trung tâm để họ chủ động quyết định và chịu trách nhiệm trong quá trình vận hành.
Nâng cao chất lượng trọng tài thương mại để củng cố niềm tin của nhà đầu tư
10:52
Phát biểu tại hội thảo, luật sư Lê Thị Dung, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Thương mại miền Trung, cho rằng trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng, trọng tài thương mại cần được nhìn nhận từ góc độ của nhà đầu tư và môi trường đầu tư. Một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, minh bạch và chuyên nghiệp không chỉ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên mà còn góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Theo TS Lê Thị Dung, chất lượng đội ngũ trọng tài viên là yếu tố quyết định uy tín của hoạt động trọng tài. Việc lựa chọn trọng tài viên cần dựa trên những tiêu chí rõ ràng về chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, đạo đức nghề nghiệp và khả năng giải quyết tranh chấp một cách sâu sắc, khách quan, công bằng. Đồng thời, cần có những chính sách thông thoáng hơn để thu hút các chuyên gia, luật sư, nhà khoa học và những người có nhiều kinh nghiệm thực tiễn tham gia hoạt động trọng tài, qua đó nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp.
Bà cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả sẽ giúp bảo đảm quyền lợi của các bên, nâng cao hiệu lực của quá trình giải quyết tranh chấp, đồng thời hoàn thiện quy trình tố tụng trọng tài theo hướng chặt chẽ, minh bạch và hiệu quả hơn, qua đó hạn chế tối đa nguy cơ phán quyết trọng tài bị hủy.
Bên cạnh đó, hoạt động trọng tài cần không ngừng cập nhật các xu hướng mới của thế giới, đặc biệt là đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và triển khai xét xử trực tuyến trong giải quyết tranh chấp. Đây là giải pháp phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế số, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, nâng cao tính linh hoạt và khả năng tiếp cận công lý cho doanh nghiệp, đồng thời góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của trọng tài thương mại Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Quỹ tỷ USD chờ sandbox: “Trên trải thảm, dưới rải chông” thì vốn khó vào
10:57
Đặt vấn đề tại hội thảo, TS. Võ Trí Thành cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay là xác định những “điểm nghẽn” cần tháo gỡ để cơ chế sandbox thực sự trở thành công cụ thử nghiệm hiệu quả cho các mô hình tài chính mới.
Chia sẻ từ góc nhìn thực tiễn, PGS.TS Trần Mạnh Huy - Uỷ viên Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho biết ông đã có gần 20 năm tham gia vào lĩnh vực tài sản số và từng tiếp xúc với nhiều nhà đầu tư quốc tế quan tâm đến VIFC-DN. Theo ông Huy, điều đáng chú ý là các nhà đầu tư đều tỏ ra hào hứng khi nghe về mô hình IFC tại Đà Nẵng, nhưng phần lớn sau đó lại rời đi vì chưa thể triển khai.
“Họ không sợ thắng hay thua trên thị trường. Điều họ sợ nhất là thể chế không rõ ràng. Rủi ro thị trường thì họ chấp nhận, nhưng rủi ro chính sách thì họ không chịu”, ông Huy nói.
Theo vị chuyên gia, nỗi lo lớn nhất của nhà đầu tư là khả năng “đang làm giữa chừng thì luật thay đổi”, khiến toàn bộ kế hoạch đầu tư bị đảo lộn. Đây là nguyên nhân khiến nhiều dòng vốn quan tâm đến rồi lại rút lui.

Ông Huy cũng cho rằng một trong những hiểu nhầm lớn hiện nay là việc truyền thông về VIFC -DN đang bị thu hẹp quá nhiều vào câu chuyện tài sản số.
“Trung tâm tài chính không có nghĩa chỉ là tài sản số. Đó chỉ là một phần. Nhà đầu tư đến đây mang theo rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, chứ không chỉ một loại hình tài sản”, ông nhấn mạnh.
Theo ông, thực tế số lượng sản phẩm có thể triển khai trong một trung tâm tài chính quốc tế lớn hơn rất nhiều so với 5 nhóm sản phẩm cốt lõi đang được đề cập. Tuy nhiên, bài toán quay lại vẫn là khung pháp lý và khả năng thử nghiệm thực chất.
Ông Huy dẫn ví dụ về một trường hợp doanh nghiệp muốn chuyển đổi từ USDT sang tiền Việt Nam thông qua cơ chế sandbox. Dù được chấp thuận thử nghiệm, nhưng địa điểm triển khai lại không phải nơi có nhu cầu sử dụng thực tế, khiến mô hình không thể vận hành hiệu quả và phải chịu lỗ.
“Không thể để sandbox trở thành câu chuyện ‘trên trải thảm, dưới rải chông’. Nhà đầu tư vào thử nghiệm mà không có điều kiện vận hành thực tế thì cuối cùng họ sẽ rút đi”, ông Huy cảnh báo.
Một điểm đáng chú ý khác, theo ông Huy, là nếu muốn thu hút nhiều dòng vốn vào Đà Nẵng, trung tâm tài chính cần gắn chặt hơn với tài sản thực và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) – nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế địa phương.
“Đà Nẵng chưa có nhiều 'ông to' nên phải nghĩ đến SME. Làm sao để dòng vốn đi thẳng vào các doanh nghiệp này, biến tài sản thực của họ thành nền tảng để hút vốn”, ông Huy nói.
Ông dẫn chứng, gần đây ông đã mời một quỹ đầu tư quốc tế tới Đà Nẵng để triển khai mô hình tài trợ xuất khẩu không kỳ hạn. Theo đó, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được ứng vốn ngay khi giao hàng, còn việc thu hồi công nợ từ bên mua ở nước ngoài sẽ do quỹ đảm nhận. Theo vị chuyên gia, đây là mô hình rất phù hợp với cộng đồng SME tại Đà Nẵng, giúp doanh nghiệp giải quyết bài toán dòng tiền mà không phải chờ thanh toán kéo dài.
Điều đáng nói là quỹ này có quy mô lên tới 20 tỷ USD và sẵn sàng giải ngân, nhưng cuối cùng vẫn phải chờ vì chưa có cơ chế sandbox rõ ràng.
“Quỹ 20 tỷ USD đã ở đây rồi, nhưng khi họ hỏi sandbox ở đâu thì mình lại loay hoay chưa có câu trả lời”, ông Huy chia sẻ.
Theo ông, để khơi thông dòng vốn, điều quan trọng là phải xây dựng cơ chế sandbox hoàn chỉnh từ A đến Z, để nhà đầu tư “vào là làm luôn”, thay vì thử nghiệm trong tình trạng nửa vời. Ông cũng cho rằng Đà Nẵng khó có thể tự giải quyết toàn bộ bài toán này mà cần sự điều phối mạnh hơn từ trung ương.
“Trung ương phải là nơi thiết kế và điều phối, Đà Nẵng là nơi vận hành. Nếu không làm rõ vai trò này thì rất khó đi nhanh”, ông nói.
Đồng tình với quan điểm này, TS Võ Trí Thành cho rằng những lo ngại về quy mô thị trường, tính đa dạng sản phẩm và đặc biệt là sự bất định chính sách đang làm giảm sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư quốc tế. Theo ông, điều quan trọng là phải nhìn vào cách thị trường và nhà đầu tư đánh giá Việt Nam, thay vì chỉ nhìn từ góc độ nội tại.
Ông Thành dẫn lại kết quả từ một hội thảo gần đây với 5 doanh nghiệp đang chuẩn bị tham gia thị trường tài sản số tại Việt Nam. Theo một khảo sát nhỏ được thực hiện tại đây, phần lớn các nhà đầu tư đang hoạt động trên thị trường quốc tế vẫn tỏ ra khá dè dặt với Việt Nam. Nguyên nhân, theo ông Thành, đến từ nhiều yếu tố như quy mô thị trường còn nhỏ, hệ sinh thái sản phẩm chưa đa dạng, tính ổn định chính sách chưa cao, cùng với những vấn đề liên quan đến định danh và cơ chế vận hành.
“Có rất nhiều yếu tố khiến sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam hiện chưa đủ mạnh. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta phải nhìn vào cách thị trường và nhà đầu tư đang nhìn mình như thế nào”, TS Võ Trí Thành nói.
Theo vị chuyên gia, sự minh bạch và thẳng thắn với nhà đầu tư là yếu tố quan trọng để xây dựng niềm tin. Ông cho rằng ngay cả khi Việt Nam chưa thể đáp ứng ngay toàn bộ các điều kiện mà nhà đầu tư quốc tế đặt ra, điều đó không có nghĩa cơ hội bị khép lại.
Vị chuyên gia nhớ lại quá trình đàm phán với các nhà đầu tư khi xây dựng mô hình trung tâm tài chính quốc tế, khi phía đối tác từng đưa ra khoảng 10 điều kiện tiên quyết. Dù biết Việt Nam chưa thể đáp ứng ngay, họ vẫn chấp nhận một lộ trình thực hiện rõ ràng.
“Họ chấp nhận thời gian, chấp nhận quãng đường và lộ trình để đi cùng mình. Điều quan trọng là phải tạo được niềm tin về một cuộc chơi đang bắt đầu”, ông Thành nhấn mạnh.
Sanbox – “Cứ mở cửa trước rồi điều chỉnh sau”
11:00
Nhắc đến sandbox, TS Nguyễn Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, cho biết cách đây 30 năm trước, vào năm 1997, Việt Nam đứng trước bài toán về Internet. Lúc đó, dư luận lo ngại rằng nếu phổ cập Internet tại Việt Nam sẽ gặp rất nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến quản lý nội dung website hay an ninh chính trị. Thế nhưng, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định mở cửa, và nhờ đó ngày nay chúng ta đã có một hệ thống Internet phát triển rất tốt.
“Tôi nghĩ câu chuyện đối với tài sản số hiện nay cũng hoàn toàn tương tự. Kinh nghiệm thế giới cho thấy họ thường áp dụng cơ chế sandbox để vừa làm, vừa sai thì sửa, liên tục học hỏi. Điều này cũng giống như câu chuyện của Uber hay Grab cách đây hơn 10 năm vậy. Quan điểm của tôi là chúng ta cứ mở cửa trước rồi điều chỉnh sau. Tất nhiên, mở cửa ở đây là làm trong khuôn khổ có kiểm soát của sandbox, chứ không phải là cho phép hoạt động tràn lan”, TS Nguyễn Hoàng Hà chia sẻ.

Từ thực tế khi đi tiếp xúc với các địa phương, TS. Nguyễn Hoàng Hà cho biết khi nhắc đến tài sản số, đến các loại coin hay những khái niệm liên quan, gần như các nhà lãnh đạo, các địa phương và cán bộ công chức đều chưa thực sự hiểu rõ.
“Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta không chỉ mong muốn có một hệ thống pháp luật tốt, mà điều đầu tiên là đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý phải hiểu được bản chất của tài sản số. Họ không cần phải nghiên cứu quá sâu, nhưng phải nắm được bản chất để sau này khi tham gia xây dựng pháp luật và thực thi quản lý sẽ thuận lợi hơn rất nhiều”, ông nói.
Bên cạnh đó, đồng quan điểm với TS Nguyễn Đình Cung, ông Hà cho rằng tài sản số đối với Việt Nam là mới, nhưng đối với thế giới thì không còn quá mới mẻ. “Là người đi sau, chúng ta có cơ hội học hỏi. Sự thất bại lẫn thành công của các nước đều có những mẫu số chung nhất định. Chúng ta phải nhìn vào mẫu số chung đó để áp dụng sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, nhằm tạo ra một cơ chế vừa mang bản sắc Việt Nam, vừa mang lại hiệu quả thực chất”, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng nhấn mạnh.
Thị trường carbon: Cơ hội để Đà Nẵng bứt phá và thu hút dòng vốn xanh
11:08
GS Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch Công ty TNHH Cered, cho rằng Đà Nẵng nên lựa chọn một sản phẩm chuyên biệt để tạo dấu ấn khác biệt, thay vì phát triển dàn trải. Theo ông, tín chỉ carbon và thị trường carbon là lĩnh vực phù hợp để Đà Nẵng xây dựng thành một trung tâm chuyên biệt, tương tự như cách Busan đã lựa chọn hướng đi riêng của mình.
Ông nhận định dù thị trường carbon có nhiều tiềm năng, Việt Nam hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Trước hết là hành lang pháp lý chưa đồng bộ, sự phối hợp giữa các bộ, ngành như tài nguyên và môi trường, nông nghiệp, tài chính và các cơ quan liên quan còn thiếu thống nhất, khiến việc triển khai thị trường carbon gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, nhận thức và năng lực của doanh nghiệp còn rất hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp trong nước chưa hiểu rõ cơ chế vận hành của thị trường carbon, phương pháp kiểm kê phát thải, quy đổi tín chỉ carbon cũng như các tiêu chuẩn quốc tế cần đáp ứng.

Một trở ngại khác là hạ tầng kỹ thuật và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu. Hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) vẫn còn nhiều hạn chế; dữ liệu chưa đầy đủ và thiếu minh bạch, gây khó khăn cho việc xác minh và cấp tín chỉ carbon. Cùng với đó, cơ chế định giá tín chỉ carbon trong nước còn nhiều biến động và rủi ro. Giá tín chỉ carbon hiện ở mức thấp so với thị trường quốc tế, trong khi chưa có cơ chế bình ổn giá, khiến các nhà đầu tư chưa thực sự mặn mà với những dự án dài hạn.
Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Hữu Ninh, nếu Đà Nẵng xác định phát triển thị trường carbon là một trọng điểm chiến lược, tập trung nguồn lực để hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, thu hút đội ngũ chuyên gia và xây dựng các mô hình thí điểm, thì mục tiêu này hoàn toàn khả thi. Thay vì phân tán nguồn lực, thành phố nên tập trung phát triển một lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh rõ rệt.
Ông nhấn mạnh rằng, trong các lĩnh vực mới nổi hiện nay, thị trường carbon là một trong những lĩnh vực giàu tiềm năng nhất. Khi xây dựng được hệ sinh thái tín chỉ carbon minh bạch và hiệu quả, Đà Nẵng không chỉ tạo ra giá trị gia tăng mà còn thu hút được các dòng vốn xanh và nâng cao vị thế của thành phố trong xu hướng phát triển kinh tế carbon thấp.
“Muốn bán tín chỉ carbon ra thế giới, Việt Nam phải định danh tài sản này”
11:13
Trao đổi tại phiên thảo luận về định hướng phát triển các sản phẩm tài chính cốt lõi cho Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN), ông Kevin Bruce Iwanaga, Trưởng ban Chiến lược và Tổng hợp, Cơ quan điều hành VIFC-DN cho rằng để Đà Nẵng có thể nhanh chóng kết nối với dòng vốn quốc tế, cần nhìn rõ sự khác biệt giữa thị trường carbon trong nước và thị trường quốc tế.
Trả lời câu hỏi của TS Võ Trí Thành về việc làm thế nào để VIFC Đà Nẵng có thể trở thành điểm kết nối nhanh nhất với nhà đầu tư toàn cầu, ông Kevin cho biết cách tiếp cận phù hợp là phải “tách bạch hai thị trường”.
Theo ông, thị trường carbon nội địa của Việt Nam vừa chính thức bước vào giai đoạn thí điểm với hệ thống giao dịch phát thải (ETS) được triển khai từ ngày hôm trước. Đây là bước đi có ý nghĩa quan trọng, bởi lần đầu tiên Việt Nam xây dựng một cơ chế giao dịch phát thải có cấu trúc tương đối rõ ràng. Ông cho biết hệ thống ETS hiện được xây dựng trên cơ sở hoạt động giảm phát thải của khoảng 110 nguồn phát thải lớn, tập trung ở ba lĩnh vực chủ lực gồm nhiệt điện, thép và xi măng.
“Việc Việt Nam chính thức khởi động thị trường ETS nội địa là một tín hiệu rất tích cực. Điều đó cho thấy Việt Nam đã bắt đầu đặt nền móng cho thị trường carbon của riêng mình”, ông Kevin nhận định.
Tuy nhiên, theo vị chuyên gia thị trường nội địa mới chỉ là bước đầu. Tiềm năng lớn hơn của Việt Nam nằm ở việc tham gia sâu hơn vào thị trường carbon quốc tế, nơi nhu cầu về tín chỉ carbon chất lượng cao đang tăng mạnh.
Ông Kevin nhận định, trong bối cảnh thế giới ngày càng quan tâm tới các giải pháp giảm phát thải và tài chính khí hậu, Việt Nam đang nổi lên như một nguồn cung tiềm năng của các tín chỉ carbon có chất lượng cao và độ tin cậy lớn. Đây chính là cơ hội để VIFC Đà Nẵng định vị vai trò của mình.
“VIFC Đà Nẵng có thể đóng vai trò như một cửa ngõ quốc tế cho việc bán các tín chỉ carbon chất lượng cao của Việt Nam ra thế giới, tới các chính phủ, tập đoàn và nhà đầu tư quốc tế”, Trưởng ban Chiến lược và Tổng hợp - Cơ quan điều hành VIFC-DN, nói.
Tuy vậy, để thực hiện được điều này, Việt Nam cần một hành lang pháp lý hoàn toàn mới, mang tính đặc thù cho thị trường carbon quốc tế.
Theo ông Kevin, vấn đề đầu tiên cần giải quyết là xác định rõ bản chất pháp lý của tín chỉ carbon.
“Muốn giao dịch quốc tế, trước tiên phải trả lời được câu hỏi: tín chỉ carbon là gì? Nó là hàng hóa? Là công cụ tài chính? Hay là một tài sản kỹ thuật số?”, ông đặt vấn đề.
Theo ông Kevin, cách phân loại này sẽ quyết định toàn bộ cơ chế vận hành của thị trường, từ quyền sở hữu, phương thức giao dịch, quản trị rủi ro cho tới nghĩa vụ thuế. Ông đặc biệt nhấn mạnh tới triển vọng token hóa tín chỉ carbon – tức chuyển đổi các tín chỉ carbon thành tài sản kỹ thuật số để có thể giao dịch linh hoạt hơn trên các nền tảng quốc tế.
Vị chuyên gia đánh giá đây là xu hướng đang phát triển mạnh trên thế giới vì giúp gia tăng thanh khoản, mở rộng khả năng tiếp cận nhà đầu tư và nâng cao tính minh bạch.
Tuy nhiên, để thực hiện điều này, Việt Nam cần làm rõ hai vấn đề nền tảng: thứ nhất là tín chỉ carbon có được công nhận là một loại tài sản hay không; thứ hai là quyền sở hữu đối với tài sản đó được xác lập như thế nào.
“Nếu chúng ta không xác lập rõ quyền sở hữu và bản chất pháp lý của tín chỉ carbon, thì rất khó để đưa nó lên các nền tảng giao dịch quốc tế”, ông Kevin phân tích.
Cũng theo ông Kevin, việc phân loại tín chỉ carbon ảnh hưởng tới nhiều vấn đề pháp lý khác, đặc biệt là vấn đề thuế. Nếu tín chỉ carbon được coi là hàng hóa, cơ chế thuế sẽ khác; nếu được coi là công cụ tài chính hoặc tài sản số, cách đánh thuế sẽ khác. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới nhà đầu tư mà còn quyết định sức hấp dẫn của thị trường.
“Thuế là một phần rất quan trọng. Cách chúng ta định danh tín chỉ carbon sẽ quyết định cách đánh thuế và điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của thị trường”, ông nói.
Ngoài ra, ông Kevin cũng lưu ý rằng khi tín chỉ carbon trở thành một loại tài sản giao dịch quốc tế, vấn đề dòng vốn và quản lý ngoại hối sẽ lập tức phát sinh. Theo ông, đây là những vấn đề phức tạp vì liên quan trực tiếp tới luân chuyển vốn xuyên biên giới, chuyển đổi tiền tệ và các quy định quản lý ngoại hối hiện hành.
“Tín chỉ carbon không chỉ là câu chuyện môi trường. Khi nó bước vào thị trường quốc tế, nó trở thành câu chuyện của tài chính, thuế, tỷ giá và dòng vốn”, ông nhấn mạnh. Theo đó, để VIFC Đà Nẵng thực sự trở thành cửa ngõ giao dịch carbon quốc tế, Việt Nam sẽ cần thêm một lớp khung pháp lý bổ sung, ngoài hệ thống pháp lý hiện có.
“VIFC và FTZ phải kết hợp thành một hệ sinh thái tài chính – thương mại tích hợp”
11:20
Trả lời cho câu hỏi về việc xây dựng mối quan hệ, kết nối giữa VIFC với FTZ (khu thương mại tự do) PGS.TS Bùi Quang Bình, Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, cho biết sự ra đời của khu thương mại tự do cũng như trung tâm tài chính tại Đà Nẵng có một tiến trình lịch sử rất hay.
“Ban đầu, khu thương mại tự do được đặt ra khi Đà Nẵng xác định xây dựng cảng Liên Chiểu nhằm lo liệu nguồn hàng đầu vào cho cảng mới. Sau đó, khi xúc tiến đề án trung tâm tài chính, chúng ta lại định hướng trung tâm này phải phục vụ cho khu thương mại tự do. Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu mối quan hệ này theo hướng phục vụ một chiều như vậy thì chưa hoàn toàn chính xác”, ông nói.
Theo PGS.TS Bùi Quang Bình, điều quan trọng và tạo nên sự khác biệt cho Đà Nẵng là phải kết hợp giữa trung tâm tài chính và khu thương mại tự do để hình thành nên một hệ sinh thái tài chính – thương mại tích hợp. Trong đó, khu thương mại tự do Đà Nẵng, hay nói rộng hơn là tất cả các hoạt động thương mại xuyên biên giới sẽ tạo ra dòng giao dịch thực, bao gồm hàng hóa xuất nhập khẩu, các dịch vụ logistics và nhiều hoạt động khác. Đây chính là đối tượng để thông qua trung tâm tài chính chuyển hóa thành đối tượng được tài trợ, cấp vốn.
“Nói cách khác, dòng thương mại này đóng vai trò như đầu vào cho trung tâm tài chính. Ngược lại, trung tâm tài chính sẽ giúp cho các giao dịch trong khu thương mại tự do cũng như các hoạt động thương mại xuyên biên giới có chi phí rẻ hơn và vận hành hiệu quả hơn. Đó chính là bản chất của một hệ sinh thái hỗn hợp giữa thương mại và tài chính”, đại diện Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng nhấn mạnh.
Chia sẻ thêm, ông Bình cho hay, nếu đã định vị là Trung tâm Tài chính Quốc tế thì dòng thương mại ở đây phải là dòng thương mại quốc tế, tức là thương mại xuyên biên giới. Chúng ta phải làm được việc này, tức là hai bên hỗ trợ để vừa tạo đầu vào, đầu ra cho nhau, vừa tạo ra các sản phẩm tài chính.
“Tất nhiên, câu chuyện này còn liên quan đến rất nhiều quy định quản lý. Bởi vì khi vận hành khu thương mại tự do, không chỉ có vấn đề tài chính mà còn hàng loạt vấn đề khác như: doanh nghiệp nào được vào, hàng hóa quản lý thế nào, quy chế quá cảnh ra sao, rồi thủ tục hải quan. Tôi lấy ví dụ, chỉ riêng chuyện hải quan, nếu tôi đăng ký hoạt động trong khu thương mại tự do nhưng lại mở tờ khai và nhập hàng vào một địa điểm khác rẻ hơn, gần khách hàng hơn để tiện giao hàng, thì có được không? Doanh nghiệp có được hưởng các chính sách ưu đãi của khu thương mại tự do hay không? Đó là những bài toán đặt ra rất nhiều vấn đề phức tạp”, ông gợi mở vấn đề.
TS Bùi Văn Huy: Bài toán vốn sẽ là thách thức lớn nhất của nền kinh tế trong 5 năm tới
11:25
Phát biểu tại hội thảo, TS Bùi Văn Huy, Phó chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT, nêu vấn đề: “Chúng ta đề cập đến vai trò kiến tạo thể chế, định hình dòng vốn thế hệ mới của VIFC-DN, đây đều là những tiềm năng trong tương lai. Tuy nhiên, hiện nay đã có những cơ hội hiện hữu, vậy tại sao chúng ta chưa khai thác? Liệu IFC nên được hình thành để giải quyết những bài toán cấp thiết của nền kinh tế, và đâu là bài toán quan trọng nhất cần ưu tiên?”
Theo ông Huy, bài toán vốn sẽ là thách thức lớn nhất của nền kinh tế trong 5 năm tới. Tổng nhu cầu vốn ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng trong giai đoạn này, trong khi kênh tín dụng ngân hàng có giới hạn, phát hành trái phiếu chính phủ không đạt kế hoạch và thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn chưa phục hồi sau cú sốc năm 2022. Bình quân mỗi năm, nền kinh tế thiếu khoảng 50 tỷ USD để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng.
"Vậy tại sao IFC không tập trung giải quyết ngay bài toán vốn rất lớn trước mắt? IFC có thể trở thành cửa ngõ thu hút dòng vốn quốc tế hay không? Hiện chúng ta đã có dòng vốn ODA từ Nhật Bản, Mỹ và trong thời gian tới có thể có thêm từ Trung Quốc", ông Huy nói.

Một lĩnh vực khác là quản lý gia sản (wealth management). Theo ông Huy, đây không còn là câu chuyện tiềm năng mà là thị trường có thể triển khai ngay với quy mô hàng tỷ USD. Theo dự báo, từ nay đến năm 2030, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm bốn quốc gia có tốc độ tăng trưởng số lượng người siêu giàu (sở hữu tài sản trên 30 triệu USD) cao nhất thế giới. Đồng thời, đến năm 2030, Việt Nam sẽ có khoảng 50 triệu người thuộc tầng lớp trung lưu.
Điều đó cho thấy nhu cầu quản lý gia sản sẽ rất lớn. Nếu phát triển được lĩnh vực này thì có phải cũng là một cách khơi thông dòng vốn hay không?
Để làm được điều đó, trước hết cần có hành lang pháp lý rõ ràng. Hiện nay, các khái niệm như "wealth management" hay "family office" vẫn chưa được quy định cụ thể. Chúng ta đã có các chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực môi giới, chứng khoán, bảo hiểm, nhưng chưa có chứng chỉ chuyên biệt về quản lý gia sản. Hiện các đơn vị vẫn phải tập hợp nhiều chứng chỉ nhỏ liên quan đến từng mảng hoạt động, thay vì có một chứng chỉ tổng thể. Liệu IFC có thể giải quyết được vấn đề này hay không?
Thứ hai là câu chuyện về sản phẩm. Ông Huy cho hay hiện danh mục của FIDT có khoảng 60-70 sản phẩm phục vụ một khách hàng, bao gồm ngân hàng, bất động sản, đầu tư, chứng khoán, bảo hiểm và cả tư vấn về luật thừa kế. Tuy nhiên, thị trường vẫn còn thiếu nhiều sản phẩm như quỹ tín thác hay các quỹ đầu tư xuyên biên giới. Nếu giải quyết được bài toán sản phẩm thì không chỉ thu hút thêm dòng vốn mà ngay cả việc giữ chân dòng vốn trong nước, hạn chế chảy ra nước ngoài, cũng đã là một thành công rất lớn.
Về nguồn nhân lực, ông Huy nêu vấn đề: Thượng Hải có khoảng 500.000 người, trong khi đó, IFC tại Đà Nẵng và TP.HCM sẽ có bao nhiêu nhân sự và có bao nhiêu người đáp ứng được tiêu chuẩn chuyên môn?
"Chúng tôi mong muốn Việt Nam sớm có một chứng chỉ quốc gia về quản lý gia sản. Hiện cùng với VFCA, chúng tôi cũng đang làm việc để đưa chứng chỉ quản lý tài sản toàn cầu về Việt Nam", ông Huy nói thêm.
Niềm tin và nhân lực là hai trụ cột của VIFC
11:33
PGS.TS Đặng Hữu Mẫn, Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng, cho rằng ban điều hành VIFC đang đảm nhận một khối lượng công việc rất lớn và thể hiện rõ tính chuyên nghiệp trong quá trình triển khai.
Từ góc nhìn của nhiều chuyên gia tham dự, mô hình VIFC là một chủ trương mang tầm chiến lược, đã có định hướng từ Chính phủ, vì vậy điều quan trọng hiện nay không nằm ở tranh luận về chủ trương, mà là tập trung vào cách thức tổ chức thực hiện sao cho hiệu quả và bền vững.
Một số ý kiến chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng, yếu tố mang tính quyết định đối với sự thành công của VIFC không chỉ dừng lại ở khung thể chế, mà còn nằm ở mức độ tạo dựng niềm tin của nhà đầu tư, cộng đồng chuyên gia và các đối tác tham gia thị trường. Niềm tin này chính là nền tảng để hình thành một hệ sinh thái tài chính ổn định và có sức cạnh tranh.

Bên cạnh đó, vấn đề nguồn nhân lực được xem là trụ cột quan trọng. Các chuyên gia thống nhất rằng, trong quá trình xây dựng và phát triển VIFC, cần tập trung thu hút và phát triển nhân lực theo ba nhóm chính: đội ngũ quản lý điều hành; đội ngũ nhân sự trực tiếp tham gia thị trường tài chính; lực lượng nhân sự trong các ngành dịch vụ hỗ trợ liên quan.
Theo đánh giá chung, bài toán nhân lực không thể tiếp cận theo cách truyền thống, mà cần một tư duy linh hoạt hơn, kết hợp hài hòa giữa chính sách của nhà nước và cơ chế thu hút nhân tài của thị trường, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của một trung tâm tài chính quốc tế trong giai đoạn mới.
Chuẩn hóa chất lượng nhân sự đầu vào VIFC bằng chứng chỉ quốc tế
11:35
Bổ sung ý kiến về câu chuyện phát triển nguồn lực cho VIFC-DN, TS Bùi Văn Huy, Phó chủ tịch HĐQT FIDT, cho rằng yếu tố cốt lõi quyết định sự vận hành hiệu quả của một trung tâm tài chính quốc tế không chỉ nằm ở thể chế hay sản phẩm, mà còn ở chất lượng nguồn nhân lực.
Theo ông Huy, trong quá trình triển khai các hoạt động liên quan đến ngành quản lý tài sản cũng như các dịch vụ tài chính nói chung, nguồn nhân lực luôn là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng nhất.
Ông đánh giá nhiều giải pháp hỗ trợ phát triển nhân lực cho VIFC-DN đã được các diễn giả đề cập, từ chính sách thị thực, cư trú cho chuyên gia quốc tế, ưu đãi thuế thu nhập cho lao động chất lượng cao, cho tới các mô hình hợp tác đào tạo giữa nhà trường, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, theo ông, vẫn còn một yếu tố quan trọng khác cần được nhấn mạnh hơn, đó là hệ thống chứng chỉ và chứng nhận quốc tế.
“Ở nhiều trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế đóng vai trò rất quan trọng trong việc chuẩn hóa chất lượng nhân sự đầu vào”, ông Huy nói.

Dẫn kinh nghiệm từ các IFC lớn trên thế giới như Thượng Hải, Singapore và Hong Kong, ông cho biết các thị trường này đều xây dựng hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp gắn với các chứng chỉ tài chính quốc tế để bảo đảm chất lượng vận hành.
Theo ông, việc đưa các chứng chỉ quốc tế vào hệ sinh thái đào tạo của VIFC-DN sẽ giúp chuẩn hóa năng lực chuyên môn, tạo ra một mặt bằng chất lượng đồng đều và nâng cao mức độ tin cậy đối với nhà đầu tư nước ngoài.
“Nếu VIFC-DN muốn phát triển theo chuẩn quốc tế, việc chuẩn hóa nguồn nhân lực ngay từ đầu là điều cần thiết. Không chỉ cần chính sách thu hút nhân tài, mà còn phải xây dựng được một hệ thống chuẩn hóa để bảo đảm chất lượng nhân lực ngay từ đầu vào. Đây là yếu tố nền tảng để IFC vận hành hiệu quả và bền vững”, ông Bùi Văn Huy nhấn mạnh.
PGS.TS Nghiêm Thị Thà: Cần tập trung vào 4 nhóm chỉ tiêu cốt lõi
11:40
Theo PGS.TS Nghiêm Thị Thà, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam: “Khi chúng ta đánh giá hiệu quả của một Trung tâm Tài chính quốc tế, dù là của Việt Nam hay của bất kỳ quốc gia nào thì việc đánh giá luôn luôn phải tuân thủ theo các bộ chỉ số đánh giá hiệu quả chuẩn mực”.
Đối với VIFC Đà Nẵng nói riêng hay IFC của Việt Nam nói chung, PGS.TS Nghiêm Thị Thà cho rằng trước mắt, trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, chúng ta nên tập trung vào bốn nhóm chỉ tiêu cốt lõi. Các nhóm này vừa tuân thủ theo bộ chỉ tiêu chung của quốc tế, vừa phù hợp với bối cảnh của Việt Nam.

Nhóm chỉ tiêu thứ nhất là đánh giá mức độ thu hút thị trường. Theo PGS.TS Nghiêm Thị Thà, nhóm này sẽ được đo lường thông qua các chỉ tiêu cụ thể như số lượng các định chế tài chính quốc tế đặt trụ sở và hoạt động tại VIFC Đà Nẵng; tổng số vốn đầu tư và các dòng vốn quốc tế huy động được qua trung tâm này; tổng giá trị tài sản quản lý tại đây. Ba chỉ tiêu này sẽ là những thước đo cốt lõi phản ánh sức hút của Trung tâm Tài chính Quốc tế Đà Nẵng.
Nhóm chỉ tiêu thứ hai là đánh giá khả năng đổi mới sáng tạo, phản ánh thể chế vượt trội. Nhóm này bao gồm các chỉ tiêu thành phần như số lượng các doanh nghiệp công nghệ tài chính (Fintech), doanh nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tài chính (AI Finance) được cấp phép hoạt động tại trung tâm.
Nhóm chỉ tiêu thứ ba là đánh giá về cải cách thể chế và chất lượng nguồn lực. Tiêu chí này được đánh giá thông qua số lượng các chuyên gia tài chính quốc tế và lao động chất lượng cao đến làm việc tại trung tâm; cùng với thời gian trung bình để cấp phép và xử lý các thủ tục hành chính tại đây. Từ đó, chúng ta có thể đem so sánh các chỉ số này với mức trung bình của khu vực.
Nhóm chỉ tiêu thứ tư là đánh giá về mức độ tác động và khả năng điều phối, phản ánh mức độ hội nhập. PGS.TS Nghiêm Thị Thà thông tin, nhóm này được đánh giá qua ba phương diện: số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ có doanh nghiệp đang hoạt động tại VIFC Đà Nẵng; tỷ lệ đóng góp của VIFC Đà Nẵng vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Đà Nẵng; và cuối cùng là mức độ cải thiện vị trí của VIFC Đà Nẵng trong các bảng xếp hạng quốc tế (như Bộ chỉ số Trung tâm Tài chính Toàn cầu - GFCI). Qua đó, chúng ta có thể đánh giá được một cách chính xác uy tín và năng lực cạnh tranh của VIFC Đà Nẵng trên trường quốc tế.
Kỳ vọng về một "NASDAQ Việt Nam"
11:45
Phát biểu tại phiên thảo luận, ông Nguyễn Tử Quảng, Chủ tịch BKAV, đồng thời là Phó chủ tịch Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ thông tin Việt Nam, cho biết đã tham gia nhiều phiên thảo luận trong Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng liên quan đến việc xây dựng VIFC, đặc biệt ở giai đoạn hoàn thiện mô hình.
Theo ông Quảng, nhiều vấn đề đang được bàn thảo tại hội nghị thực tế đã từng được mổ xẻ khá kỹ trước khi IFC chính thức ra đời. Tuy nhiên, điều quan trọng hiện nay không còn là tiếp tục bàn sâu hơn, mà là phải bắt đầu hành động.
“Chúng ta phải thay đổi cách tiếp cận. Nếu cứ tiếp tục bàn mãi, rất có thể năm sau chúng ta vẫn sẽ ngồi đây bàn những vấn đề tương tự”, ông Quảng nói.
Theo ông, cách tiếp cận phù hợp là phải bắt đầu từ một sản phẩm cụ thể, thay vì hình thành bộ máy trước rồi mới tìm hướng triển khai.
“Phải lấy việc tìm người chứ không phải để người đi tìm việc. Nếu hình thành bộ máy mà chưa biết để làm gì thì rất dễ rơi vào tình trạng vừa thừa vừa thiếu”, ông nhấn mạnh.

Từ góc độ một doanh nghiệp công nghệ, ông Quảng đề xuất Đà Nẵng nên triển khai ngay một sản phẩm mang tính đột phá: xây dựng một sàn giao dịch chuyên biệt dành cho doanh nghiệp khoa học công nghệ. Theo ông, mô hình này có thể xem là phiên bản “NASDAQ của Việt Nam”, đóng vai trò bệ đỡ cho các startup và doanh nghiệp công nghệ huy động vốn.
Ông dẫn lại câu chuyện của NASDAQ tại Mỹ, cho rằng khi thị trường này ra đời, hệ sinh thái quỹ đầu tư mạo hiểm vẫn chưa phát triển mạnh, khiến các công ty công nghệ rất khó tiếp cận vốn. NASDAQ khi đó chính là giải pháp để mở dòng vốn cho nhóm doanh nghiệp này.
Theo ông Nguyễn Tử Quảng, nghịch lý hiện nay là vốn trong hệ thống ngân hàng vẫn còn rất lớn nhưng lại không chảy được vào doanh nghiệp công nghệ. Ông dẫn số liệu cho biết có khoảng 500.000 tỷ đồng tín dụng sẵn sàng cho vay nhưng không thể giải ngân vì mô hình và khẩu vị rủi ro của ngân hàng không phù hợp với startup công nghệ.
Ông Quảng cho rằng một sàn giao dịch chuyên biệt cho doanh nghiệp công nghệ cần có cách tiếp cận hoàn toàn khác với thị trường chứng khoán truyền thống. Theo đó, thay vì áp dụng các tiêu chuẩn quá chặt như sàn niêm yết thông thường, điều quan trọng nhất là phải tạo ra sự minh bạch tuyệt đối.
“Người tham gia thị trường này chấp nhận rủi ro. Họ hiểu cuộc chơi công nghệ là 'liều ăn nhiều'. Điều họ cần là sự minh bạch. Lỗ thì nói lỗ, lãi thì nói lãi, thay đổi thế nào thì công khai đúng như vậy”, ông Quảng nhấn mạnh.
Theo ông, Việt Nam hiện có khoảng 85.000 doanh nghiệp khoa học công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ số, nhưng phần lớn vẫn đang thiếu vốn để tăng trưởng. Ông cho rằng Đà Nẵng hoàn toàn có thể trở thành 'bệ đỡ' cho mô hình này nhờ cơ chế linh hoạt của IFC, qua đó mở đường hình thành một NASDAQ phiên bản Việt Nam.
Không chỉ dừng ở thị trường vốn cho doanh nghiệp công nghệ, ông Nguyễn Tử Quảng cũng nhấn mạnh một dòng vốn khác mà ông gọi là “nguồn năng lượng rất lớn” – đó là tài sản mã hóa. Theo ông, Việt Nam hiện đang sở hữu quy mô tài sản mã hóa vào khoảng 140 tỷ USD, với khoảng 19 triệu người tham gia nắm giữ và giá trị giao dịch ước khoảng 1 tỷ USD mỗi phiên.
“Vấn đề không phải là dòng vốn này có tồn tại hay không, mà là chúng ta có cơ chế để dẫn nó vào nền kinh tế chính thức hay không”, ông nói.
Theo ông Quảng, thay vì để thị trường tài sản mã hóa tiếp tục vận hành trong trạng thái “hoang dã”, điều cần làm là xây dựng cơ chế minh bạch để kiểm soát rủi ro, đặc biệt là gian lận và lừa đảo. Ông nhấn mạnh rằng với nhóm nhà đầu tư tài sản số, yếu tố rủi ro và biến động vốn đã là điều được chấp nhận. Điều nhà nước cần tập trung là thiết lập các rào chắn chống lừa đảo, chứ không phải triệt tiêu hoàn toàn rủi ro.
“Nếu chúng ta tạo được cơ chế minh bạch và an toàn, đây sẽ là một động lực đột phá rất lớn”, ông nói.
Theo ông Quảng, nếu Đà Nẵng tập trung vào hai nhóm sản phẩm chiến lược gồm sàn giao dịch cho doanh nghiệp công nghệ và cơ chế hợp pháp hóa dòng vốn tài sản mã hóa, tổng quy mô thị trường có thể lên tới hàng trăm tỷ USD. Ông tin rằng đây sẽ là hai trụ cột đủ mạnh để giúp VIFC-DN tạo khác biệt so với các trung tâm tài chính khác.
TS Võ Trí Thành đánh giá đề xuất của ông Nguyễn Tử Quảng về hai nhóm sản phẩm chiến lược cho IFC Đà Nẵng là rất đáng chú ý, đặc biệt là ý tưởng xây dựng một sàn giao dịch dành riêng cho startup và doanh nghiệp khoa học công nghệ.
Theo ông Thành, đối với nhóm sản phẩm thứ hai liên quan đến tài sản mã hóa, nhà nước hiện cũng từng bước xây dựng cơ chế và hoàn thiện khung pháp lý. Trong khi đó, với nhóm sản phẩm đầu tiên – sàn giao dịch chuyên biệt cho doanh nghiệp công nghệ – đây là ý tưởng đã từng được đặt ra trước đó và được đánh giá có tiềm năng lớn.
Ông cho rằng nếu chỉ xây dựng một sàn giao dịch giới hạn trong phạm vi thị trường nội địa thì quy mô sẽ chưa đủ để tạo lực hút mạnh.
“Ý tưởng khi đó là xây dựng một sàn giao dịch ngay trong IFC, kéo các nhà đầu tư quốc tế vào, với nhiều loại hình tài sản và công cụ giao dịch dành riêng cho startup và doanh nghiệp khoa học công nghệ”, ông Thành cho biết.
Theo ông, đây có thể trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả cho các startup Việt Nam, giúp doanh nghiệp tiếp cận dòng vốn quốc tế ngay trong nước thay vì phải tìm đến các trung tâm tài chính như Singapore.
VIFC-DN phải giữ được dòng tiền của người giàu Việt Nam
11:50
Kết luận hội thảo, TS Võ Trí Thành nhận định dù vẫn còn những khác biệt nhất định trong cách tiếp cận giữa các diễn giả, nhưng đó là điều bình thường trong quá trình xây dựng chính sách.
Điều quan trọng hơn, theo ông, là những trao đổi tại hội thảo đã mang lại nhiều góc nhìn thực tiễn và nội dung giá trị để các cơ quan hoạch định chính sách cũng như lãnh đạo TP. Đà Nẵng cân nhắc trong quá trình thúc đẩy phát triển IFC.
“Dù có những cách tiếp cận khác nhau, tất cả chúng ta đều hướng tới một mục tiêu chung là mong muốn IFC phát triển, Đà Nẵng phát triển và đất nước phát triển”, ông Thành nhấn mạnh.
Phát biểu bổ sung trước khi phiên thảo luận khép lại, TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), cho rằng một trong những dòng vốn quan trọng nhưng vẫn chưa được thảo luận đầy đủ trong định hướng phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN) là dòng vốn quản lý tài sản.
Theo ông Nghĩa, nếu xem Đà Nẵng là một “thị trường ngách” trong cuộc đua xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, thì quản lý tài sản chính là một trong những mảnh ghép chiến lược mà thành phố cần đặc biệt chú ý.
TS Lê Minh Nghĩa cho hay Việt Nam hiện có khoảng 6 tỷ phú USD, hàng nghìn cá nhân sở hữu tài sản từ 30 triệu USD trở lên và hàng vạn người có tài sản từ 10 triệu USD. Đây mới chỉ là những con số công khai, còn thực tế có thể lớn hơn nhiều.
“Câu hỏi quan trọng là làm thế nào để dòng tiền đó đi vào trung tâm tài chính của Đà Nẵng”, ông Nghĩa đặt vấn đề.
Không chỉ dừng ở việc giữ lại dòng vốn trong nước, Chủ tịch VFCA cho rằng bài toán lớn hơn là làm sao để thu hút thêm dòng tiền của giới siêu giàu trên thế giới. Theo ông, nếu không có những cơ chế đủ hấp dẫn, dòng tiền của người giàu Việt Nam sẽ tiếp tục dịch chuyển ra nước ngoài, tới các trung tâm tài chính lớn như United States, Singapore hay Switzerland.
“Tiền của người giàu Việt Nam phải được giữ lại ở đây, thay vì chảy sang Mỹ, Singapore hay Thụy Sĩ. Đó là việc mà chúng ta phải làm”, ông nhấn mạnh.
TS Lê Minh Nghĩa cũng cho rằng Việt Nam dù chưa phải quốc gia có số lượng người giàu lớn nhất khu vực, nhưng lại là một trong những thị trường có tốc độ gia tăng tài sản nhanh nhất thế giới. Chính tốc độ hình thành tầng lớp giàu có này là nền tảng quan trọng để xây dựng một hệ sinh thái quản lý tài sản đủ lớn cho IFC Đà Nẵng.
Để hiện thực hóa điều này, ông Nghĩa đề xuất cần sớm xây dựng cơ chế cho quỹ hưu trí tư nhân – một kênh đầu tư dài hạn có thể hấp thụ dòng tiền lớn từ nhóm khách hàng có tài sản cao. Nếu có các chính sách ưu đãi đủ mạnh, chẳng hạn miễn hoặc giảm thuế thu nhập cá nhân đối với khoản đầu tư vào quỹ hưu trí tư nhân, thì dòng vốn sẽ có động lực lớn để ở lại trong nước thay vì tiếp tục dịch chuyển ra ngoài.
“Muốn giữ tiền ở lại, chúng ta phải tạo ra những sản phẩm đủ hấp dẫn, đủ an toàn và có cơ chế khuyến khích phù hợp. Nếu làm được điều đó, dòng vốn sẽ tự chảy vào”, ông Nghĩa nói.
Theo Chủ tịch VFCA, đây có thể là một trong những hướng đi thực tế và khả thi để VIFC-DN không chỉ trở thành nơi hút vốn quốc tế, mà còn là trung tâm giữ và quản lý tài sản của giới giàu Việt Nam trong dài hạn.
BẾ MẠC
11:55
Phát biểu bế mạc hội thảo "VIFC-DN: Kiến tạo thể chế - Định hình dòng vốn thế hệ mới", ông Hoàng Anh Minh, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), Tổng biên tập Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance đã thay mặt ban tổ chức gửi lời cảm ơn các lãnh đạo Trung ương và TP. Đà Nẵng, các chuyên gia, doanh nhân và toàn thể đại biểu đã dành thời gian tham dự, thảo luận về chủ đề quan trọng này.

Ông Hoàng Anh Minh nhấn mạnh những tham luận và ý kiến thảo luận hôm nay đã cung cấp một góc nhìn toàn cảnh về việc xây dựng các trung tâm tài chính quốc tế, trong đó có Trung tâm tài chính quốc tế Đà Nẵng, đồng thời gợi mở nhiều hướng tiếp cận mới, góp phần làm rõ những vấn đề mới của thị trường tài chính nói chung, của các trung tâm tài chính nói riêng trong giai đoạn phát triển sắp tới.
“Khi chúng ta đang thảo luận ở đây, các cơ quan chức năng của Trung ương và các địa phương cũng đang nỗ lực hoàn tất các công việc liên quan như hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ sở hạ tầng, chuẩn bị nguồn nhân lực… cho mô hình này. Hội thảo hôm nay khép lại, nhưng chặng đường phía trước liên quan đến hành trình xây dựng các trung tâm tài chính vẫn còn rất dài”, ông Hoàng Anh Minh cho biết.
Tổng biên tập Hoàng Anh Minh cũng gửi lời cảm ơn tới UBND TP. Đà Nẵng, Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế Đà Nẵng và các cơ quan chức năng của Đà Nẵng trong việc phối hợp tổ chức sự kiện này.
Ông nhấn mạnh về niềm tin lớn lao đối với sự phát triển mạnh mẽ của Trung tâm tài chính quốc tế Đà Nẵng nói riêng, của thành phố Đà Nẵng nói chung bởi những lợi thế riêng có của Đà Nẵng, đặc biệt là con người Đà Nẵng. Đà Nẵng không chỉ là thành phố đáng sống như đã và đang như thế, Đà Nẵng sẽ là địa chỉ đáng đến của dòng vốn đầu tư toàn cầu.
Từ các ý kiến hôm nay, ban tổ chức sẽ xây dựng một bản khuyến nghị chính sách gửi tới lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các cơ quan quản lý đặc biệt là các cơ quan quản lý về kinh tế tài chính, trong nỗ lực góp tiếng nói để tiếp tục định hình chính sách, thúc đẩy triển khai chính sách và tối ưu hiệu quả các trung tâm tài chính trong tương lai.
“Tôi tin rằng, với sự đồng hành của các cơ quan Trung ương, các bộ ngành, các định chế tài chính, doanh nghiệp và giới chuyên gia và đặc biệt là với sự bùng nổ của thị trường tài chính toàn cầu, chúng ta sẽ tìm được lời giải cho các vấn đề của hiện tại và tương lai của mô hình trung tâm tài chính quốc tế. Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance sẽ tiếp tục có các chương trình hoạt động mới để đồng hành, cổ vũ cho hành trình này”, ông Hoàng Anh Minh kết luận.
Thu hút dòng vốn di sản và công nghệ: Cuộc cách mạng thể chế tại VIFC-DN
Bãi bỏ hạn mức đầu tư 10% đối với quỹ ETF, mở đường loại hình quỹ mới
(VNF) - Theo Hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Chứng khoán 2019, quy định về hạn chế đầu tư của quỹ ETF danh mục (ETF) sẽ được gỡ bỏ.
Một quỹ đầu tư ngoại bán ròng cổ phiếu Việt 10 quý liên tiếp
(VNF) - Một quỹ đầu tư Đài Loan đã bán ròng cổ phiếu Việt Nam trong 10 quý liên tiếp. Nhưng theo giới phân tích, diễn biến này chưa phản ánh toàn bộ triển vọng của thị trường chứng khoán trong nước.
Cuộc 'di cư' lớn nhất lịch sử chứng khoán Việt: Gần 300 mã cổ phiếu từ HNX sang HoSE
(VNF) - Việc chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết từ HNX sang HoSE trước cuối năm 2026 đánh dấu bước tái cấu trúc quan trọng của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Năm 'mũi nhọn' hút vốn toàn cầu của Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng
(VNF) - VIFC Đà Nẵng sẽ tập trung phát triển 5 sản phẩm tài chính trọng điểm, gồm token hóa tài sản, tín chỉ carbon, sàn giao dịch hàng hóa, quản lý quỹ và thị trường trái phiếu nhằm kết nối dòng vốn quốc tế với nền kinh tế thực của Việt Nam.
Hàng trăm người nộp 108 tỷ vào tài khoản FPT để hưởng lợi gấp 6 lần
(VNF) - Gần 400 người vừa chuyển 108 tỷ đồng vào tài khoản FPT để mua cổ phiếu với mức giá thấp hơn khoảng 86%, rẻ ương đương gấp 6 làn thị giá và những điều kiện đi kèm đã gây chú ý.
Sửa Luật Chứng khoán: Bãi bỏ 2 điều kiện quan trọng với ngân hàng lưu ký chứng khoán
(VNF) - Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán 2019 cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục nhiều hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán đảm bảo phù hợp, thống nhất với hệ thống pháp luật.
Hai lực cản chính khiến thanh khoản thị trường chứng khoán suy giảm
(VNF) - Đại diện từ quỹ KIM Việt Nam cho rằng, nâng hạng FTSE không còn là yếu tố mới mà thị trường cần câu chuyện riêng để giữ chân nhà đầu tư, trong bối cảnh thanh khoản suy yếu và vốn ngoại tiếp tục rút khỏi thị trường chứng khoán.
Từ hôm nay 1/7, chuyển nhượng tiền mã hóa phải nộp thuế 0,1%
(VNF) - Thuế đối với chuyển nhượng tài sản số sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7, đánh dấu thêm một bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường tại Việt Nam.
Xây dựng VIFC: 'Việt Nam đi sau nên càng phải làm nhanh hơn, quyết liệt hơn'
(VNF) - Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Đức Hiển cho rằng, Trung tâm Tài chính quốc tế không chỉ là nơi cung cấp dịch vụ tài chính mà còn phải trở thành kênh huy động vốn mới, thử nghiệm các mô hình tài chính hiện đại và kết nối dòng vốn toàn cầu. Muốn tạo sức cạnh tranh với các trung tâm trong khu vực, Việt Nam cần nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý đủ mạnh, đồng bộ và có cơ chế vượt trội cho các sản phẩm tài chính, tài sản số, fintech và quản trị rủi ro.
VN-Index tăng điểm trong biên độ hẹp, khối ngoại bán ròng hơn 1.100 tỷ đồng
(VNF) - VN-Index duy trì đà tăng trong phiên 30/6 nhưng biên độ khá hẹp, phản ánh trạng thái thận trọng của dòng tiền. Động lực chính vẫn đến từ nhóm bluechips, nhất là hệ sinh thái Vingroup, trong bối cảnh khối ngoại nối dài chuỗi bán ròng với quy mô hơn 1.100 tỷ đồng.
Lãnh đạo công ty chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán?
(VNF) - Bộ Tư pháp vừa công bố hồ sơ thẩm định Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Chứng khoán 2019. Dự án Luật dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI vào tháng 10-2026.
Lãnh đạo Đà Nẵng tiết lộ 3 nhóm sản phẩm ưu tiên phát triển tại VIFC-DN
(VNF) - Theo lãnh đạo TP. Đà Nẵng, cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Đà Nẵng (VIFC-DN) đã và đang phối hợp với các đối tác, định chế tài chính quốc tế lớn triển khai 3 nhóm sản phẩm trọng tâm, ưu tiên phát triển tại VIFC-DN.
Nhóm DN cảng 'ăn nên làm ra', VIMC nhận 'mưa tiền' cổ tức từ các công ty con
(VNF) - VIMC chuẩn bị thu về hàng trăm tỷ đồng cổ tức tiền mặt khi nhiều doanh nghiệp cảng biển đồng loạt chốt quyền chi trả sau một năm kinh doanh khả quan.
Giới tiền số nín thở chờ 'ngày phán xét': Cá voi Strategy 'ra bài' với STRC
(VNF) - Strategy sẽ chốt cổ tức và quyết định tỷ lệ cổ tức mới cho STRC trong ngày 30/6, giữa lúc cổ phiếu lao dốc mất hơn 25% giá trị so với mệnh giá.
'Đà Nẵng cạnh tranh bằng thể chế, không chỉ bằng ưu đãi'
(VNF) - Sau thời gian vận hành, Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Đà Nẵng (VIFC-DN) đã thu hút các chuyên gia quốc tế, định chế tài chính và doanh nghiệp công nghệ tài chính tham gia hệ sinh thái.
Thu hút dòng vốn di sản và công nghệ: Cuộc cách mạng thể chế tại VIFC-DN
(VNF) - Trong kỷ nguyên tài sản số, tài chính xanh và đổi mới sáng tạo, cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia đang chuyển từ thu hút vốn sang kiến tạo thể chế. Với việc triển khai Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC), Đà Nẵng đứng trước cơ hội trở thành điểm đến của các dòng vốn thế hệ mới. Tuy nhiên, để hiện thực hóa khát vọng đó, Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP. Đà Nẵng (VIFC-DN) cần đánh giá đúng thực trạng, nhận diện các khoảng trống để tiếp tục kiến tạo môi trường thể chế minh bạch, l
Vai trò của VIFC-DN trong lộ trình phát triển dịch vụ quản lý tài sản
(VNF) - Cầu về dịch vụ quản lý tài sản (Wealth Management) tại Việt Nam đang phát triển nhanh. Còn cung - nghĩa là một ngành thực sự, với khung pháp lý, đội ngũ, sản phẩm, và mô hình kinh doanh đúng nghĩa - thì gần như chưa hình thành.
'Cá voi' Ethereum top đầu thế giới bắt đáy, mua gom tiền số
(VNF) - SharpLink mua thêm hơn 39.000 ETH sau gần 8 tháng yên ắng, phát tín hiệu tiếp tục chiến lược xây dựng kho bạc Ethereum giữa vùng "giá đáy".
VN-Index vẫn “mắc kẹt” ở đáy cũ, chờ ngân hàng dẫn nhịp?
(VNF) - Bức tranh dòng vốn toàn cầu đang cho thấy một sự dịch chuyển đáng chú ý khi nhà đầu tư bắt đầu thận trọng hơn với nhóm cổ phiếu liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) và bán dẫn. Thay vào đó, dòng tiền đang có xu hướng luân chuyển sang các nhóm cổ phiếu phi công nghệ. Tại Việt Nam, nhóm ngân hàng đang nổi lên như một điểm sáng.
Từ 1/7, cảnh báo nhiều hành vi quen thuộc bị coi là trốn thuế
(VNF) - Luật Quản lý thuế 2025 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7, quy định rõ 10 hành vi bị xác định là trốn thuế. Các hành vi vi phạm không chỉ bao gồm không kê khai, không xuất hóa đơn mà còn mở rộng đến việc sử dụng chứng từ không hợp pháp, khai sai giao dịch và gian lận trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Vốn mạo hiểm cần một 'bệ phóng' từ trung tâm tài chính quốc tế
(VNF) - Phát triển trung tâm tài chính quốc tế chỉ có thể bền vững khi đi cùng một chiến lược phát triển hệ sinh thái đổi mới tài chính theo chiều sâu, trong đó vốn mạo hiểm không đứng ở bên lề, mà là một cấu phần nền của năng lực cạnh tranh tài chính quốc gia.
Cảng Đà Nẵng tiếp tục không đáp ứng đủ điều kiện đại chúng
(VNF) - Cảng Đà Nẵng vẫn chưa đáp ứng điều kiện đại chúng khi VIMC chưa thoái bớt vốn, đứng trước nguy cơ phải hủy tư cách công ty đại chúng vào cuối năm.
Cổ phiếu tăng mạnh: Bộ đôi VIC-VHM cùng LPB khuấy đảo thị trường
(VNF) - Các mã vốn hóa lớn tiếp tục dẫn dắt nhóm cổ phiếu tăng mạnh, giúp thị trường chứng khoán nối dài nhịp phục hồi và tiến sát vùng đỉnh cũ.
Thời hạn kê khai thuế bổ sung rút ngắn một nửa: Người nộp thuế 'đặc biệt' lưu ý
(VNF) - Thay vì 10 năm như trước đây, quy định mới chỉ cho phép doanh nghiệp, hộ kinh doanh được thực hiện khai bổ sung hồ sơ kê khai thuế còn 5 năm.
Bãi bỏ hạn mức đầu tư 10% đối với quỹ ETF, mở đường loại hình quỹ mới
(VNF) - Theo Hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Chứng khoán 2019, quy định về hạn chế đầu tư của quỹ ETF danh mục (ETF) sẽ được gỡ bỏ.
Toàn cảnh đại công trường 'Thành phố kỳ quan' bên bờ Vịnh Hạ Long
(VNF) - Siêu đô thị Vinhomes Global Gate Hạ Long đang dần thành hình với quy mô 18 tỷ USD, rộng hơn 6.000 hecta, hứa hẹn trở thành “thành phố kỳ quan” với cơ hội đầu tư hấp dẫn tại Quảng Ninh.




























































