VNF

TS. Nguyễn Đức Kiên - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia
TS. Chu Khánh Lân - Bộ phận giúp việc Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ

Chúng ta có thể kỳ vọng các ngân hàng số theo đúng bản chất của nó sẽ được thành lập nhiều hơn, trở thành một thế lực đủ khả năng cạnh tranh và hợp tác sòng phẳng với các ngân hàng truyền thống để đáp ứng tốt các nhu cầu đang thay đổi của khách hàng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trong lịch sử phát triển của ngành ngân hàng nói riêng và ngành tài chính nói chung, các dịch vụ ngân hàng về bản chất là không có sự thay đổi nhưng cách thức mà ngân hàng cung ứng chúng cho khách hàng lại thay đổi đáng kể. Tỷ lệ khách hàng dành thời gian đến ngân hàng để thực hiện thủ tục thanh toán, gửi tiết kiệm hay đề nghị cấp một khoản tín dụng có xu hướng giảm dần, đặc biệt là trong thời kỳ đại dịch Covid-19 khi khách hàng có thể đạt được các mục tiêu này thông qua máy tính và điện thoại di động có kết nối internet.

Thực vậy, dịch vụ ngân hàng là để phục vụ các nhu cầu tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của xã hội và khi công nghệ làm thay đổi cách đáp ứng nhu cầu kể trên thì bản thân các ngân hàng cũng phải thay đổi cách cung ứng các dịch vụ của mình. Sự nở rộ của thương mại điện tử trên nền tảng phát triển của toàn cầu hóa, sự phổ biến của truyền thông, mạng internet và điện thoại di động là các nhân tố dẫn tới sự đổi thay căn bản trong hoạt động ngân hàng. Sự xuất hiện của một số ngân hàng số tại Singapore, Hàn Quốc và Anh cho thấy tuy chưa thành một xu hướng mạnh mẽ, nhưng cũng là một hình thức đáp ứng sự vận động của nhu cầu khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng.

Có thể tồn tại những lập luận rằng ngân hàng truyền thống (trong quá trình chuyển đổi số) vẫn có thể đáp ứng được những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng và thị trường tài chính không cần có lập ngân hàng số. Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy tuy công nghệ là nhân tố giúp cho cuộc sống của con người ngày một văn minh hơn, không phải lúc nào cũng dễ dàng được xã hội chấp nhận. Phát triển ngân hàng số trước tiên phải bắt đầu từ thay đổi trong nhận thức của xã hội.

Gần đây, sự phát triển của công nghệ và tác động của nó tới các hoạt động kinh tế xã hội không chỉ diễn ra từ từ theo một chu kỳ dài mà diễn ra với tốc độ nhanh chóng, có tính gắn kết, đan xen giữa các ngành nghề. Sự khuếch đại của đổi mới công nghệ giữa các ngành càng làm cho công nghệ phát triển nhanh và được áp dụng rộng rãi hơn trong nhiều mặt của cuộc sống, trong đó lĩnh vực tài chính ngân hàng được hưởng lợi rất nhiều từ các công nghệ như máy học, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, blockchain… Chính quá trình chuyển đổi số tại các ngân hàng truyền thống càng khiến cho sự vận động của ngân hàng số đi đến chỗ trở thành một lực lượng vừa liên kết vừa hoạt động song song với ngân hàng truyền thống.

Trong khi các cơ quan quản lý nhà nước vẫn còn đang đắn đo việc có để cho ngân hàng số phát triển theo đúng bản chất hay không thì trong thực tiễn, quá trình chuyển mình của hệ thống ngân hàng đã diễn ra. Trong kỷ nguyên của kết nối không dây, mô hình hoạt động của ngân hàng, mà cụ thể là các chi nhánh, phòng giao dịch, sẽ giống như những chiếc máy tính để bàn với kết nối mạng internet.

Giả sử như chúng ta có kế hoạch xây dựng một ngân hàng mới ngày hôm nay và cố gắng đạt tới quy mô của các ngân hàng lớn thì không thể biết đến bao giờ số chi nhánh của ngân hàng mới xấp xỉ bằng của ngân hàng đó. Các chi nhánh tồn tại đến ngày hôm nay là bởi các quy tắc tuân thủ buộc khách hàng phải đến với kênh giao dịch này để ký vào một phiếu yêu cầu sử dụng dịch vụ không hề mang lại cho họ bất cứ giá trị gia tăng đáng kể nào. Giá trị cốt lõi của hoạt động ngân hàng là nằm ở tính tiện ích, sự dễ dàng và khả năng bảo vệ khách hàng.

Xung quanh câu hỏi liệu các ngân hàng có nên duy trì các văn phòng giao dịch hữu hình nhằm mang đến cho khách hàng sự thoải mái nhất định về mặt tâm lý hay không lại là bài toán lợi nhuận-chi phí. Ở một mức chi phí nhất định, việc duy trì chúng là hoàn toàn hợp lý nhưng rõ ràng là đến một mức nào đó, nó sẽ không còn hợp lý nữa xét về hiệu quả kinh tế cho cả ngân hàng lẫn khách hàng.

Ngày nay, ngân hàng số như là chính những chiếc điện thoại thông minh được kết nối mạng internet với máy chủ ngân hàng có thể giúp người sử dụng thực hiện các thao tác với dịch vụ ngân hàng. Sự tiện dụng này có được chính là từ công nghệ mang tới. Vai trò của các chi nhánh, phòng giao dịch không chỉ giảm xuống về số lượng, diện tích và số cán bộ mà còn giảm xuống cả về vai trò đưa ra các quyết định kinh doanh.

Có thể nhận định rằng, thành tựu lớn nhất mà công nghệ hiện đại mang lại cho ngân hàng không phải là các giao diện hấp dẫn trên ứng dụng điện thoại mà đơn giản là nó giúp ngân hàng thu thập dữ liệu, phân tích và dự báo được nhu cầu của khách hàng. Với những thông tin đầy đủ hơn về những việc khách hàng thực hiện hàng ngày, các kênh giao dịch mà họ sử dụng và tổng nhu cầu đối với các sản phẩm/dịch vụ của họ, một ngân hàng số theo đúng bản chất số có thể sử dụng các mô hình hoặc phân tích về hành vi để dự báo trước và đáp ứng nhu cầu của khách hàng hiệu quả hơn ngân hàng truyền thống. Trong tương lai, khi công nghệ ngân hàng tiếp tục phát triển, thì cách thức khách hàng giao tiếp với ngân hàng và cách ngân hàng vận hành sẽ còn tiếp tục thay đổi mạnh mẽ hơn nữa.

Ở góc độ vĩ mô, các quốc gia sẽ không cần thiết phải gia tăng số lượng các chi nhánh, phòng giao dịch để đạt được các mục tiêu về tài chính toàn diện mà sẽ dựa vào điện thoại di động, mức độ bao phủ internet và định danh cá nhân. Ngoài ra, quản lý hoạt động ngân hàng diễn ra ngày một nhiều về số lượng, quy mô lẫn mức độ phức tạp hơn trước buộc cơ quan nhà nước cần quản lý dựa trên nền tảng số thay cho phương thức truyền thống.

Quá trình chuyển đổi này diễn ra không chỉ ở yếu tố công nghệ mà với sự phát triển nhanh chóng và sâu sắc của công nghệ thì dịch vụ ngân hàng sẽ có những thay đổi mang tính căn bản ở các khía cạnh về tính riêng biệt, tính liên tục, tính tích hợp, tính vận động và tính thuận tiện.

 

Thứ nhất, các loại dịch vụ sẽ được ngân hàng thiết kế và cung ứng riêng cho từng khách hàng, sẽ không còn dịch vụ với giá trị sử dụng và chi phí áp dụng chung cho các khách hàng hoặc nhóm khách hàng. Tức là dịch vụ ngân hàng đã được cá thể hóa cho từng khách hàng.

Thứ hai, dịch vụ ngân hàng cũng sẽ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng ở mọi lúc và mọi nơi, không còn bất kỳ sự phân biệt nào giữa không gian và thời gian. Ngày nay, khách hàng chấp nhận việc từ bỏ các thủ tục có tính phức tạp để bảo đảm an toàn như phải hiện diện tại ngân hàng và xác thực chữ kí để đổi lại có được sự tiện lợi hơn.

Thứ ba là tích hợp, nghĩa là dịch vụ ngân hàng trở thành nơi kết nối trung tâm của mọi giao dịch phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống bất kể nhu cầu đó là thanh toán hóa đơn dịch vụ thiết yếu, các khoản tiêu dùng thường ngày hay mua sắm tài sản cho tới đầu tư tài chính.

Thứ tư là tính vận động của dịch vụ ngân hàng, nghĩa là các dịch vụ ngân hàng sẽ không cố định mà luôn vận động cùng với sự thay đổi của khách hàng như lãi suất tiền gửi tiết kiệm, lãi suất vay vốn, phân bổ danh mục đầu tư sẽ phụ thuộc vào thực trạng và xu hướng biến động của thu nhập, tình trạng sức khỏe, giá trị tài sản và các nhu cầu chi tiêu.

 

Cuối cùng là tính thuận tiện, nghĩa là dịch vụ ngân hàng phải giúp khách hàng đưa ra các quyết định tài chính phù hợp và nhanh chóng trong điều kiện bùng nổ thông tin. Việc xử lý thông tin không thể chỉ dựa vào các chuyên gia ngân hàng đơn thuần mà cần tới sự trợ giúp đắc lực của máy móc và công nghệ. Tóm lại, dịch vụ ngân hàng hiện đại không thể đòi hỏi khách hàng phải thông minh hơn mới sử dụng được mà ngân hàng phải dùng công nghệ để biến những thứ khó giải quyết nhất trở thành đơn giản.

Để giải quyết được cả năm thay đổi mang tính căn bản kể trên thì không thể đơn thuần dựa vào hệ thống ngân hàng truyền thống đang thực hiện chuyển đổi số như hiện nay. Chỉ có ngân hàng số với các công nghệ có tính đột phá, chứ không phải là ngân hàng truyền thống thực hiện chuyển đổi số, mới có thể giải quyết được những thách thức và tận dụng được các cơ hội khi nhu cầu của khách hàng thay đổi. Quá trình ngân hàng số vươn lên và vượt qua ngân hàng truyền thống nhanh hay chậm sẽ phụ thuộc vào khả năng của ngân hàng số so với ngân hàng truyền thống trong giải quyết năm yếu tố kể trên trong quá trình đáp ứng hai mục tiêu cơ bản sau.

Thứ nhất, giảm thời gian khách hàng phải dành cho giao dịch ngân hàng khi số lượng giao dịch tăng lên. Thứ hai, tăng lợi ích mang lại từ dịch vụ ngân hàng trong khi giảm chi phí phải trả để sử dụng dịch vụ ngân hàng. Để ngân hàng số có cơ hội phát triển, việc để ngân hàng số hình thành ngay trong chính thị trường hiện tại mà các ngân hàng truyền thống (đang thực hiện chuyển đổi số) sẽ khó lòng mang lại kết quả. Bởi lẽ những tư duy quản lý ngân hàng và quy định pháp lý về hoạt động và dịch vụ ngân hàng truyền thống là những di sản sẽ phần nào ngăn cản những thay đổi công nghệ mang tính đột phá được áp dụng vào thiết kế và triển khai dịch vụ ngân hàng. Do vậy, muốn tạo điều kiện cho ngân hàng hàng số vươn lên thì bắt buộc phải hình thành một phân khúc thị trường tiềm năng cho ngân hàng số có cơ hội thử nghiệm và phát huy được thế mạnh của mình.

Việc lựa chọn một phân khúc thị trường đang bị các ngân hàng truyền thống bỏ qua để cho phép thành lập ngân hàng số để phục vụ riêng thị trường tiềm năng này sẽ giúp cho ngân hàng số có cơ hội phát triển. Khách hàng ở khu vực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở các nước đang phát triển là phân khúc thị trường tiềm năng để ngân hàng số hoạt động. Các khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên nhưng quy mô món vay không lớn, không có nhiều thông tin tín dụng để thẩm định như khách hàng doanh nghiệp thông thường, không có tài sản bảo đảm, chưa có trình độ tài chính cao và ưa thích các giao dịch ngân hàng thuận tiện và nhanh chóng… Những khó khăn và thách thức trong trong cung ứng dịch vụ tài chính này chính là cơ hội để ngân hàng số áp dụng các công nghệ có tính đột phá vào phục vụ khách hàng, từ đó tạo lập một phân khúc thị trường riêng cho mình mà ít cạnh tranh với các ngân hàng truyền thống.

 

Nếu lựa chọn các tiếp cận như vậy, các ngân hàng số sẽ nên là sự kết hợp của các nhóm nhà đầu tư từ ngân hàng truyền thống và công ty công nghệ. Ngoài vốn điều lệ để góp hình thành ngân hàng, ngân hàng truyền thống sẽ góp bí quyết kinh doanh ngân hàng còn công ty công nghệ sẽ góp công nghệ để tạo nên sức mạnh tổng hợp về tài chính và công nghệ của ngân hàng số.

Xã hội luôn phát triển hướng về phía trước, là một quá trình tự vận động để thúc đẩy con người tiến xa hơn dựa trên việc sở hữu nhiều tri thức. Nhưng trong quá trình phát triển đó, khi sự thay đổi có những tác động đến công việc, của cải, sinh hoạt của một bộ phận con người thì nhóm người này sẽ có phản ứng lại với sự thay đổi. Đó là hình ảnh của những công nhân dệt đập phá máy móc trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tại nước Anh hay người lái xe taxi truyền thống biểu tình chống lại Uber trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại nước Pháp. Tuy nhiên, những hành động phản đối, đập phá, hay cấm đoán để ngăn cản sự áp dụng của các công nghệ mới cũng sẽ dừng lại cùng với sự áp dụng rộng rãi có tính hữu ích của công nghệ mới cho toàn thể nhân loại.

Sau cùng thì sự vận động mang tính tự nhiên, khách quan và với quy mô lớn sẽ loại bỏ mọi lực cản để đưa công nghệ tiên tiến vào cuộc sống. Chúng ta có thể kỳ vọng các ngân hàng số theo đúng bản chất của nó sẽ được thành lập nhiều hơn, trở thành một thế lực đủ khả năng cạnh tranh và hợp tác sòng phẳng với các ngân hàng truyền thống để đáp ứng tốt các nhu cầu đang thay đổi của khách hàng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thiết kế: Anh Thư

TS. Nguyễn Đức Kiên - TS. Chu Khánh Lân - 11/05/2023
Cảnh hoang hóa, xuống cấp của loạt trụ sở dư thừa sau sáp nhập ở Hà Tĩnh

Cảnh hoang hóa, xuống cấp của loạt trụ sở dư thừa sau sáp nhập ở Hà Tĩnh

(VNF) - Sau gần một năm kể từ khi Hà Tĩnh thực hiện sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính, hàng loạt trụ sở công từng được đầu tư hàng chục tỷ đồng đang rơi vào cảnh bỏ hoang, xuống cấp thậm chí bị kẻ gian đập phá, lấy trộm tài sản.

Những cuộc chiến tranh đang 'viết lại' trật tự tiền tệ toàn cầu

Những cuộc chiến tranh đang 'viết lại' trật tự tiền tệ toàn cầu

(VNF) - Sự biến động địa chính trị, đặc biệt từ các xung đột năng lượng, đang tái định hình trật tự tài chính tiền tệ toàn cầu và nâng đỡ các đồng tiền gắn với hàng hóa.

Toàn cảnh xếp hạng kết quả kinh doanh các ngân hàng năm 2025

Toàn cảnh xếp hạng kết quả kinh doanh các ngân hàng năm 2025

(VNF) - Ngành ngân hàng khép lại năm 2025 với một mùa "bội thu" lợi nhuận khi nhiều nhà băng ghi nhận mức tăng trưởng trước thuế ấn tượng. Tuy nhiên, phía sau những con số nổi bật đó vẫn còn nhiều vấn đề đáng chú ý xoay quanh nợ xấu, tín dụng và huy động vốn hay NIM.

Năm Ngọ kể chuyện 'ngàn vàng mua xương ngựa' trong kinh doanh

Năm Ngọ kể chuyện 'ngàn vàng mua xương ngựa' trong kinh doanh

(VNF) - Kế sách "ngàn vàng mua xương ngựa" từng được bậc quân vương áp dụng để chiêu hiền đãi sĩ từ hàng ngàn năm trước, nay đang được các doanh nhân sử dụng trong quyết dịnh định làm ăn của thời hiện đại.

Chân dung tỷ phú tuổi Ngọ giàu nhất thế giới

Chân dung tỷ phú tuổi Ngọ giàu nhất thế giới

(VNF) - Trải dài từ công nghệ cao đến các ngành sản xuất truyền thống, những tỷ phú tuổi Ngọ trên thế giới không chỉ xây dựng nên những đế chế kinh doanh mang tầm vóc toàn cầu mà còn trở thành biểu tượng sống trong lĩnh vực mình theo đuổi, đại diện cho tinh thần bứt phá, quyết liệt và không ngừng tiến về phía trước.

Đầu tư quỹ trong thời biến động: Chiến lược nào phù hợp với nhà đầu tư cá nhân?

Đầu tư quỹ trong thời biến động: Chiến lược nào phù hợp với nhà đầu tư cá nhân?

(VNF) - Trong bối cảnh thị trường tài chính liên tục biến động, ThS. Thành Công TC đã có những chia sẻ về chiến lược đầu tư quỹ hiệu quả, cách phân bổ danh mục và vai trò của quỹ trong một chu kỳ nhiều biến động.

Phát triển quỹ đầu tư tại Việt Nam: Thay đổi tư duy và 'cởi trói' chính sách

Phát triển quỹ đầu tư tại Việt Nam: Thay đổi tư duy và 'cởi trói' chính sách

(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, ThS. Thành Công TC cho rằng rào cản lớn nhất của thị trường quỹ tại Việt Nam không nằm ở hiệu quả đầu tư, mà đến từ tư duy ngắn hạn của nhà đầu tư và những hạn chế trong cơ chế chính sách, truyền thông.

10 sự kiện tiêu biểu ngành Tài chính năm 2025

10 sự kiện tiêu biểu ngành Tài chính năm 2025

(VNF) - Năm 2025 ghi dấu một giai đoạn chuyển động mạnh mẽ của ngành Tài chính Việt Nam, từ hoàn thiện thể chế, sắp xếp tổ chức bộ máy, mở rộng không gian phát triển cho đến những kỷ lục mới về thu ngân sách, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

10 sự kiện định hình kinh tế thế giới năm 2025

10 sự kiện định hình kinh tế thế giới năm 2025

(VNF) - Năm 2025 chứng kiến nhiều biến động sâu rộng về địa chính trị, tài chính và kinh tế toàn cầu với hàng loạt sự kiện định hình lại cục diện quan hệ quốc tế và thị trường. Từ việc Mỹ thay đổi chính sách thương mại, căng thẳng khu vực leo thang, đến những dịch chuyển mạnh mẽ trên thị trường hàng hoá và công nghệ, tạo ra một năm đầy biến động và tái cấu trúc sâu rộng.

Lập kỷ lục thặng dư thương mại 1.000 tỷ USD: Trung Quốc mạnh hơn hay dễ tổn thương hơn?

Lập kỷ lục thặng dư thương mại 1.000 tỷ USD: Trung Quốc mạnh hơn hay dễ tổn thương hơn?

(VNF) - Trung Quốc ghi nhận thặng dư thương mại kỷ lục 1.000 tỷ USD, đặt ra câu hỏi liệu sức mạnh xuất khẩu có che giấu những điểm yếu ngày càng lớn của nền kinh tế hay không?

Từ xe điện tới xe xăng: Làn sóng Trung Quốc ‘làm rung chuyển’ ngành ô tô toàn cầu

Từ xe điện tới xe xăng: Làn sóng Trung Quốc ‘làm rung chuyển’ ngành ô tô toàn cầu

(VNF) - Trong khi phương Tây dồn sự chú ý vào mối đe dọa cạnh tranh từ xe điện Trung Quốc, một thách thức khác đang âm thầm định hình lại ngành công nghiệp ô tô toàn cầu. Các nhà sản xuất ô tô truyền thống của Bắc Kinh đang ồ ạt đẩy xe chạy bằng nhiên liệu hóa thạch sang các thị trường mới nổi.

Những con số bùng nổ của ngân hàng sau 9 tháng năm 2025

Những con số bùng nổ của ngân hàng sau 9 tháng năm 2025

(VNF) - Trong 9 tháng năm 2025, ngành ngân hàng ghi nhận nhiều kết quả ấn tượng. Lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 259.306 tỷ đồng, chiếm 45% lợi nhuận toàn thị trường chứng khoán và tăng 19% so với cùng kỳ.

Bảng giá đất Hải Phòng 2026: ‘Áp công thức cơ học là đi ngược nguyên tắc thị trường’

Bảng giá đất Hải Phòng 2026: ‘Áp công thức cơ học là đi ngược nguyên tắc thị trường’

(VNF) - Dự thảo bảng giá đất năm 2026 của Hải Phòng đang lấy ý kiến gây nhiều tranh luận khi hàng loạt mức giá được xác định bằng công thức nội suy theo tỷ lệ cố định, thay vì dựa trên các phương pháp định giá theo nguyên tắc thị trường.

'Đầu tư cho giáo dục, lợi nhuận sẽ trả dần cho tương lai quốc gia'

'Đầu tư cho giáo dục, lợi nhuận sẽ trả dần cho tương lai quốc gia'

(VNF) - TS Trương Anh Dũng, Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo), nhấn mạnh: đầu tư cho giáo dục không chỉ là chi phí trước mắt, mà là khoản đầu tư chiến lược, mang lại lợi nhuận bền vững cho tương lai quốc gia.