Sự lạc hậu mức giảm trừ gia cảnh: Sửa luật càng sớm càng tốt!
PGS.TS Phạm Thế Anh -
06/11/2023 09:00 (GMT+7)
Thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập và có vẻ mức thuế là quá cao khi so sánh, tính đến thông lệ quốc tế mà các nước khác đang thực hiện.
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đang áp dụng gồm 7 bậc lũy tiến với mức thuế từ 5% đến 35%, áp dụng từ 2007 đến nay. Một trong những bất cập được nêu nhiều nhất tại phiên thảo luận về ngân sách Nhà nước của Quốc hội ngày 2/11 vừa qua là mức giảm trừ gia cảnh. Hiện nay, mức giảm trừ gia cảnh là 15,4 triệu đồng/tháng (gồm giảm trừ cá nhân 11 triệu đồng và giảm trừ người phụ thuộc 4,4 triệu đồng), duy trì từ tháng 7/2020.
Với mức sống của hàng triệu người dân thành thị hiện nay thì mức giảm trừ trên không đủ trang trải cho những chi phí từ thuê nhà đến đi lại, sinh hoạt hàng ngày khi mà giá cả không ngừng tăng cao.
Bất cập của giảm trừ thuế TNCN đến từ việc chậm được điều chỉnh, giữ ở mức thấp trong thời gian dài. Năm 2009, mức này là 4 triệu đồng/tháng; đến năm 2013 nâng lên 9 triệu đồng/tháng; và phải chờ 7 năm sau mới được điều chỉnh lên mức 11 triệu đồng. Trong khoảng thời gian dài giữa những lần điều chỉnh, nền kinh tế đã trải qua những đợt lạm phát cao, có những năm lên 2 con số. Do đó, mức giảm trừ thuế TNCN đã không còn phù hợp.
Mức giảm trừ gia cảnh hiện tại được đánh giá là không phù hợp (Ảnh minh họa: Mạnh Quân)
Luật quy định khi mức lạm phát tăng đủ 20% mới điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh, song rõ ràng là khi áp dụng vào thực tiễn đã phát sinh nhiều vấn đề. Trong thực tế, một số hàng hóa cơ bản trong khoảng thời gian 2013-2020 đã tăng 2-3 lần chứ không phải tăng 20%.
Hơn nữa, với quy định trên, giả sử lạm phát cứ ở mức 15 - 17% thì theo luật sẽ chưa được điều chỉnh; nếu như mức lạm phát đó kéo dài tới hàng chục năm, vậy thì mức giảm trừ cũng phải chờ tới hàng chục năm để điều chỉnh. Khi đó, người tiêu dùng, hộ gia đình sẽ bị thiệt.
Do vậy, cần phải có những điều chỉnh trong quy định giảm trừ gia cảnh cho phù hợp. Lý tưởng nhất là phải chỉ số hóa được theo tỷ lệ lạm phát hàng năm, ví dụ lạm phát tăng 5% thì tương ứng mức giảm trừ gia cảnh cũng tự động tăng 5%. Nếu không làm được như vậy thì khoảng thời gian điều chỉnh giảm trừ gia cảnh cần phải được rút ngắn lại so với cách làm hiện nay, tối đa khoảng 2-3 năm/lần chứ không phải chờ đến 9-10 năm cho đến khi lạm phát tăng đủ 20%.
Không chỉ có vấn đề giảm trừ gia cảnh, bất cập của thuế TNCN ở Việt Nam còn bộc lộ qua rất nhiều khía cạnh.
Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình thấp và theo đó phần lớn chi tiêu của người dân là dành cho hàng hóa, dịch vụ thiết yếu. Một người có thu nhập 10 triệu đồng, có thể đã phải chi đến 80% cho nhu cầu thiết yếu. Tại những nước mà người dân có thu nhập cao, chẳng hạn thu nhập của người dân 100 triệu đồng thì chi tiêu cho hàng hóa thiết yếu chỉ chiếm 20-30%.
Do vậy, biểu thuế, thuế suất TNCN ở Việt Nam cần phải thấp hơn các nước khác. Thuế suất không nên cao như những nước phát triển bởi khi đó thuế sẽ "lấy đi" phần chi tiêu cho nhu cầu thiết yếu của người dân.
Mặc dù là nước có thu nhập thấp nhưng nếu nhìn vào biểu thuế TNCN ở Việt Nam thì các mức thuế suất của Việt Nam cao như những nước có thu nhập cao vậy, thậm chí còn cao hơn.
Hơn nữa, các bậc thuế sát nhau. Ví dụ nhảy từ 5% lên 10%, 10% lên 15% chỉ cách nhau vài ba triệu đồng mỗi tháng. Như vậy, thu nhập chỉ cần mới cải thiện chút ít là đã rơi vào diện chịu thuế mới, lên đến đỉnh 35% là mức rất cao so với các nước có thu nhập trung bình.
Thêm một vấn đề cũng rất bất cập là mức thuế dành cho người nước ngoài ở Việt Nam là 20% nhưng với người Việt có thu nhập cao thì phải chịu thuế lên tới 35%. Mà với mức thuế 35% thì sẽ khiến người dân không có động lực làm việc. Điều này ảnh hưởng đến thái độ cống hiến, năng suất lao động của những người thu nhập cao.
Ở nhiều nước, mặc dù thu nhập cao nhưng họ vẫn áp dụng việc khấu trừ thuế cho nhiều loại chi tiêu như chi phí y tế của những người mắc bệnh hiểm nghèo, đó là một cách làm văn minh. Khi chi phí y tế một năm vượt quá một ngưỡng nào đó thì được khấu trừ vào thuế. Nếu người dân mắc bệnh hiểm nghèo, chi phí chữa bệnh còn âm cả vào thu nhập, phải lấy nguồn tiết kiệm, tích trữ để trang trải mà họ vẫn phải chịu thuế TNCN thì quả thực là chính sách chưa thật sự nhân văn.
Tương tự là chi phí giáo dục phổ thông cho người phụ thuộc. Ở ta không thực hiện khấu trừ thuế TNCN cho chi phí này trong khi hệ thống giáo dục cũng như y tế lại chưa đáp ứng được nhu cầu, đặc biệt là khu vực thành thị. Với việc hệ thống trường học công quá tải, hoặc chất lượng chưa phù hợp, buộc người dân phải cho con em theo học ở hệ thống giáo dục tư nhân có mức chi phí cao hơn nhưng họ lại không được khấu trừ vào thuế TNCN.
Nhà nước không phải bỏ tiền ra để xây dựng trường học tư, nhưng cũng không khấu trừ thuế cho các khoản chi tiêu này cho người dân, ít nhất là một khoản tối thiểu nào đó. Quy định như vậy liệu rằng đã phù hợp hay chưa?!
Cần nhớ rằng, đầu tư cho y tế, cho giáo dục là đầu tư cho dài hạn, cho con người, tạo ra lực lượng lao động tốt hơn trong tương lai, đem lại thu nhập tốt hơn trong tương lai, và tạo động lực tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Thậm chí là tại một số quốc gia, lãi suất vay mua nhà của người dân, hoặc những khoản đóng góp cho từ thiện, cũng sẽ được khấu trừ thuế TNCN.
Tóm lại thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập và có vẻ mức thuế là quá cao khi so sánh, tính đến thông lệ quốc tế mà các nước khác đang thực hiện. Muốn thay đổi thực trạng này cần phải sửa đổi từ Luật thuế TNCN và cần làm sớm. Bộ Tài chính là cơ quan tham mưu cho Chính phủ cần trình phương án với sự góp ý đầy đủ từ giới chuyên môn và công luận.
Nói cho cùng, thuế TNCN là quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đại bộ phận người dân khi thu nhập bình quân ngày càng tăng lên. Việc đánh thuế TNCN phải tính đến những chi phí sinh hoạt mà các hộ gia đình đang phải chi trả, từ đó thiết kế một biểu thuế phù hợp hơn, sát thực tế hơn.
Nếu vẫn giữ cách đánh thuế như hiện nay sẽ dẫn đến một số hệ lụy nhất định: Những người dân trung thực, tuân thủ pháp luật tốt sẽ "chịu thiệt"; đồng thời khi mà thuế TNCN càng cao thì sẽ càng khiến người dân có tâm lý trốn tránh, gây tốn kém nhiều nguồn lực cho nhà nước và xã hội cho việc giám sát tính tuân thủ, chấp hành của người dân. Tuy nhiên, nếu thuế TNCN được thu ở mức vừa phải hợp lý thì người dân sẽ tự nguyện tuân thủ pháp luật tốt hơn.
Từ những phân tích trên, tôi muốn nhấn mạnh rằng, việc tăng mức giảm trừ gia cảnh, rút ngắn thời gian điều chỉnh, thiết kế lại biểu thuế cho phù hợp chưa chắc đã làm ảnh hưởng đến thu NSNN. Khi đó, nguồn thu từ TNCN có thể không những không giảm mà còn tăng lên nhờ vào việc gia tăng động lực làm việc, khuyến khích đầu tư vào vốn con người, nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế TNCN của người dân, đồng thời Nhà nước bớt được chi phí lớn cho công tác giám sát.
Tác giả: PGS.TS Phạm Thế Anh nhận bằng Tiến sỹ Kinh tế tại Đại học Manchester vào năm 2007; hiện là Trưởng Khoa Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Ông có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô, tài chính và từng giữ các vị trí: Trưởng Bộ môn Kinh tế Vĩ mô; Phó Viện trưởng phụ trách Viện Chính sách công và Quản lý thuộc Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - Năm năm trước, khi Phú Quốc rục rịch trở thành Thành phố đảo đầu tiên trong cả nước, nơi đây đã là một đại công trường với hàng trăm dự án BĐS nghỉ dưỡng được ồ ạt đầu tư. Thì nay, để chuẩn bị cho Hội nghị APEC 2027, Phú Quốc hiện là một… siêu đại công trường với nhiều dự án hạ tầng giao thông, khu trung tâm sự kiện…