Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong kỷ nguyên mới
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
Những hạn chế của thị trường vốn
Để hiện thực hóa mục tiêu này, yêu cầu huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính trung và dài hạn cho nền kinh tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, trong bối cảnh triển khai thực hiện các đột phá chiến lược vươn tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, thị trường vốn hiện nay vẫn bộc lộ những hạn chế mang tính cấu trúc:
Một là, thị trường trái phiếu – đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp – còn nhỏ bé, chưa đảm nhiệm được vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn chủ lực cho nền kinh tế, dẫn đến mất cân đối cấu trúc nghiêm trọng trong hệ thống tài chính. Tính đến năm 2025, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam vẫn duy trì ở mức rất cao, ước khoảng 127–132% GDP, thuộc nhóm cao nhất trong khu vực ASEAN, phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào kênh tín dụng ngân hàng.
Trong khi đó, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ đạt khoảng 12–14% GDP, sau giai đoạn điều chỉnh mạnh 2022–2023, còn cách xa vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực. So sánh trong khu vực cho thấy khoảng cách đáng kể: tại Thái Lan và Malaysia, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt khoảng 35–40% GDP, còn tại Singapore vượt trên 50% GDP, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về mức độ phát triển và chiều sâu của thị trường vốn. Sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng khiến hệ thống tài chính Việt Nam chịu áp lực lớn về kỳ hạn, rủi ro tập trung và hạn chế khả năng cung ứng vốn trung – dài hạn cho đầu tư phát triển.
Hai là, thị trường vốn phát triển chưa tương xứng với vai trò được kỳ vọng trong chiến lược tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế, cả về quy mô, cấu trúc sản phẩm và chất lượng nhà đầu tư.
Quy mô thị trường vốn/GDP còn khiêm tốn, đặc biệt khi so với yêu cầu là một kênh huy động vốn trung – dài hạn chủ lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. Vốn hóa cổ phiếu bình quân 69% GDP, TPDN khoảng 9,66% GDP, TPCP khoảng 22% GDP vẫn thấp so với các thị trường vốn phát triển, nơi tổng quy mô thị trường vốn thường đạt 150–300% GDP.
Thị trường TPDN dù phục hồi nhưng chưa thực sự trở thành trụ cột tài trợ vốn dài hạn cho doanh nghiệp, dự án hạ tầng và chuyển đổi xanh; tâm lý nhà đầu tư sau giai đoạn khủng hoảng còn thận trọng, nhu cầu xếp hạng tín nhiệm, minh bạch thông tin vẫn rất lớn. Cấu trúc nhà đầu tư còn mất cân đối: về số lượng, nhà đầu tư cá nhân chiếm tuyệt đại đa số; về giá trị, nhà đầu tư tổ chức nội địa (quỹ hưu trí, bảo hiểm, quỹ hạ tầng) còn yếu và chưa đóng vai trò “trụ cột dài hạn” như ở các thị trường phát triển; dòng vốn dài hạn vẫn chủ yếu đến từ nhà đầu tư nước ngoài.
Chất lượng hàng hóa (doanh nghiệp niêm yết) chưa tương xứng cả về quy mô và chuẩn quản trị; quá trình cổ phần hóa, niêm yết DNNN, chuyển đổi doanh nghiệp FDI lên sàn chưa đạt kỳ vọng; số doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ chuẩn IFRS, ESG, quản trị công ty theo thông lệ OECD còn hạn chế. Mặc dù vốn hóa thị trường cổ phiếu đã có thời điểm tiệm cận 90–100% GDP, nhưng tính bền vững còn hạn chế do thiếu nhà đầu tư tổ chức dài hạn. Nhà đầu tư cá nhân chiếm tỷ trọng lớn, khiến thị trường dễ biến động, mang nặng tính đầu cơ và ngắn hạn. Các định chế đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí bổ sung, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư hạ tầng phát triển chậm, chưa tạo được “lõi ổn định” cho thị trường.
Bên cạnh đó, chất lượng hàng hóa trên thị trường vốn chưa đồng đều, chuẩn mực công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp, xếp hạng tín nhiệm chưa được áp dụng rộng rãi và nhất quán. Mức độ hội nhập với thị trường vốn khu vực và quốc tế còn hạn chế, làm suy giảm khả năng thu hút dòng vốn dài hạn, đặc biệt là dòng vốn đầu tư gián tiếp chất lượng cao.
Ba là, các đột phá chiến lược được định hình trong năm 2025 – bao gồm nâng hạng thị trường chứng khoán, hình thành thị trường tài sản mã hóa và thành lập Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng – chưa tạo được tác động lan tỏa mạnh mẽ trong việc dẫn dòng vốn trung và dài hạn vào nền kinh tế thực. Nguyên nhân chủ yếu là các đột phá này mới tập trung vào khung thể chế và định hướng phát triển thị trường, trong khi năng lực hấp thụ vốn của khu vực doanh nghiệp trong nước còn yếu. Hiện nay, khoảng 97–98% doanh nghiệp là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn không đủ điều kiện tiếp cận thị trường vốn do hạn chế về quy mô, quản trị, minh bạch tài chính và chất lượng dự án đầu tư.
Thực tiễn này cho thấy, khi doanh nghiệp chưa đủ “chuẩn” để trở thành chủ thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu hay tiếp cận các sản phẩm tài chính hiện đại, thì ngay cả những cải cách lớn về thể chế và hạ tầng tài chính cũng khó phát huy hiệu quả.
Bốn là, Chuyển đổi số, xây dựng kho dữ liệu tập trung và áp dụng AI, Big Data trong giám sát còn trong quá trình triển khai; việc khai thác dữ liệu phục vụ giám sát theo rủi ro, đánh giá hành vi, phát hiện thao túng, giao dịch nội gián còn nhiều dư địa cải thiện.
Tóm lại, hạn chế mang tính cấu trúc của thị trường vốn Việt Nam hiện nay bắt nguồn từ sự mất cân đối giữa ngân hàng – thị trường vốn, giữa cung vốn – cầu vốn, và giữa cải cách thể chế – năng lực doanh nghiệp, đặt ra yêu cầu phải tiếp cận cải cách theo hướng tổng thể, đồng bộ và lấy nền kinh tế thực làm trung tâm.
Những hạn chế nêu trên của thị trường vốn Việt Nam không chỉ bắt nguồn từ các yếu tố bề mặt, mà chủ yếu xuất phát từ những điểm nghẽn mang tính hệ thống, tích tụ trong thời gian dài và chưa được xử lý một cách đồng bộ.
Trước hết, hệ thống thể chế thị trường vốn chưa hoàn thiện và thiếu tính ổn định, nhất quán, làm suy giảm niềm tin của cả doanh nghiệp phát hành và nhà đầu tư. Khung pháp lý về phát hành, giao dịch, công bố thông tin và bảo vệ nhà đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực trái phiếu doanh nghiệp, còn thay đổi nhanh, thiếu lộ trình rõ ràng và chưa theo kịp thông lệ quốc tế. Cơ chế giám sát – cưỡng chế thực thi pháp luật chưa đủ mạnh, dẫn đến tình trạng “chuẩn mực tồn tại trên giấy”, trong khi kỷ luật thị trường chưa được thiết lập đầy đủ. Điều này khiến chi phí tuân thủ của doanh nghiệp tăng cao, nhưng lại không tạo ra môi trường đầu tư đủ an toàn và minh bạch cho nhà đầu tư dài hạn.
Thứ hai, cơ sở hạ tầng công nghệ và hạ tầng thị trường vốn phát triển chưa đồng bộ, chưa hỗ trợ hiệu quả cho các sản phẩm tài chính trung và dài hạn. Hệ thống giao dịch, thanh toán, lưu ký, định mức tín nhiệm, chia sẻ dữ liệu tài chính – tín dụng giữa các cơ quan quản lý, tổ chức trung gian và nhà đầu tư còn phân mảnh. Việc thiếu một hạ tầng dữ liệu tập trung, chuẩn hóa và liên thông làm hạn chế khả năng định giá rủi ro, giám sát dòng vốn và phát hiện sớm các sai lệch trong phát hành và sử dụng trái phiếu doanh nghiệp.
Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trên thị trường tài chính còn thấp so với yêu cầu phát triển, cả ở phía doanh nghiệp, tổ chức trung gian lẫn cơ quan quản lý. Nhiều doanh nghiệp thiếu đội ngũ tài chính – kế toán – quản trị rủi ro đủ năng lực để xây dựng phương án phát hành trái phiếu bài bản, gắn với dự án đầu tư khả thi và dòng tiền bền vững. Ở chiều ngược lại, năng lực tư vấn, thẩm định và phân phối của các tổ chức trung gian chưa thực sự chuyên nghiệp, dẫn tới việc phát hành trái phiếu mang tính “huy động vốn ngắn hạn trá hình”, thiếu kiểm soát rủi ro.
Quan trọng hơn cả, điểm nghẽn cốt lõi nằm ở chất lượng của khu vực doanh nghiệp – tức “cầu vốn” của thị trường vốn. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có quy mô nhỏ, vốn mỏng, quản trị hạn chế, minh bạch tài chính chưa cao và năng lực xây dựng, triển khai các dự án đầu tư dài hạn còn yếu, năng suất lao động chưa cao.
Điều này khiến thị trường vốn vừa thiếu “hàng hóa chất lượng” cho các nhà đầu tư dài hạn, nhà đầu tư chiến lược, vừa thiếu “mảnh đất màu mỡ để hạt mầm vốn phát triển thành trái ngọt” lâu dài, làm hạn chế vai trò kênh dẫn vốn an toàn, bền vững của thị trường tài chính.
Ngay cả trong nhóm doanh nghiệp đã phát hành trái phiếu, không ít trường hợp sử dụng vốn kém hiệu quả, không gắn với dự án sản xuất – kinh doanh có khả năng tạo giá trị gia tăng, thậm chí vi phạm quy định pháp luật hoặc sử dụng vốn sai mục đích. Những yếu kém này không chỉ làm gia tăng rủi ro cho nhà đầu tư, mà còn bào mòn niềm tin thị trường, khiến trái phiếu doanh nghiệp chưa thể trở thành công cụ huy động vốn trung và dài hạn bền vững cho nền kinh tế.

Quan điểm xây dựng và phát triển thị trường vốn
1. Phát triển thị trường vốn nhanh, bền vững, đa dạng sản phẩm, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong và ngoài nước là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, đặc biệt nhằm cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn, giảm áp lực cho tín dụng ngân hàng, bảo đảm ổn định tài chính vĩ mô.
2. Thị trường vốn chỉ có thể phát triển bền vững khi được đặt trên nền tảng khu vực doanh nghiệp đủ mạnh, đủ minh bạch và có khả năng hấp thụ vốn thực chất. Nút thắt cốt lõi hiện nay chính là năng lực hấp thụ vốn và năng suất lao động của doanh nghiệp.
3. Thị trường vốn phải phục vụ trực tiếp và hiệu quả cho chiến lược phát triển sản xuất, công nghiệp và đổi mới sáng tạo quốc gia; tránh tình trạng vốn luẩn quẩn trong khu vực tài chính, làm gia tăng đầu cơ và rủi ro hệ thống.
4. Việt Nam cần kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn, tập trung xử lý các vấn đề then chốt: thể chế – hạ tầng – nhân lực – doanh nghiệp.
Khuyến nghị chính sách hành động trọng tâm
1. Định vị lại vai trò chiến lược của thị trường vốn trong mô hình tăng trưởng: (i) Xác lập rõ và nhất quán vai trò của thị trường vốn trong các chương trình hành động của Chính phủ: thị trường vốn là kênh huy động vốn trung, dài hạn chủ lực cho hạ tầng, công nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và kinh tế số; (ii) Gắn các chỉ tiêu phát triển thị trường vốn với mục tiêu tăng trưởng, đầu tư toàn xã hội và tái cơ cấu nền kinh tế, tránh phát triển theo phong trào hoặc hình thức.
2. Phát triển thị trường vốn phù hợp với năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp: (i) Ưu tiên nâng cao chất lượng doanh nghiệp thông qua cải thiện quản trị, minh bạch tài chính, chuẩn mực kế toán, kiểm toán và năng lực lập, triển khai dự án đầu tư trung, dài hạn; (ii) Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong nước lớn mạnh, đủ năng lực tham gia thị trường vốn và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
3. Phát triển mạnh nhà đầu tư tổ chức dài hạn và tái cấu trúc cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường vốn: (i) Hoàn thiện khung pháp lý và chính sách ưu đãi thuế đủ mạnh cho các định chế đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ ESG; (ii) Mở rộng kênh phân phối chứng chỉ quỹ; khuyến khích và có cơ chế cạnh tranh để dòng vốn đầu tư quốc tế đồng hành lâu dài với doanh nghiệp; (iii) Từng bước tái cấu trúc cơ cấu nhà đầu tư theo hướng cân bằng hơn giữa nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức, giảm biến động và đầu cơ ngắn hạn; (iv) Sớm triển khai chương trình quốc gia về đào tạo phổ cập, nâng cao dân trí tài chính, quản lý, hoạch định tài chính cá nhân, hộ gia đình.
4. Hoàn thiện hạ tầng và chuẩn mực thị trường vốn: (i) Đẩy nhanh triển khai đối tác bù trừ trung tâm (CCP), chuẩn hóa thanh toán, bù trừ, lưu ký theo ISO 20022, số hóa toàn bộ chuỗi hậu giao dịch; (ii) Nâng cao chất lượng công bố thông tin, chú trọng cơ chế bảo vệ nhà đầu tư, tăng cường kỷ luật thị trường và an toàn hệ thống tài chính.
5. Khai thác có kiểm soát các nguồn lực, nền tảng tài chính mới: (i) Thí điểm token hóa tài sản thực (RWA) trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng, logistics, bất động sản công nghiệp; (ii) Kết nối thị trường tài sản số với Trung tâm Tài chính Quốc tế để thu hút dòng vốn toàn cầu, đồng thời bảo đảm quản lý rủi ro, phòng chống rửa tiền (AML), bảo vệ nhà đầu tư và ổn định vĩ mô.
Muốn xây dựng một thị trường vốn phát triển có chiều sâu, hội nhập thị trường vốn khu vực và quốc tế một cách ổn định và bền vững, Việt Nam không thể đi từ vốn trước, mà phải bắt đầu từ sức khỏe doanh nghiệp, chất lượng nhà đầu tư, hạ tầng thể chế và chuẩn mực phát triển quốc gia. Nếu được triển khai đồng bộ và quyết liệt, các kiến nghị trên sẽ giúp chuyển hóa các đột phá thể chế hiện có thành nguồn lực tài chính thực chất, qua đó góp phần quyết định vào việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, ổn định vĩ mô và phát triển bền vững của đất nước giai đoạn 2026–2030.
'Kiến tạo động lực mới để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số'
- Những năm tháng vàng hoàn thiện pháp luật và dựng xây thể chế 15/02/2026 09:30
- Tăng trưởng kinh tế 10%: 'Cải cách thể chế phải đi trước một bước' 13/02/2026 10:00
- Đừng để tiền chôn! 15/02/2026 11:00
Di dời đại học khỏi nội đô: Hà Nội đứng trước một lựa chọn lớn
(VNF) - Sáng qua, khi đi vào giờ cao điểm trên đường Nguyễn Trãi, tôi chứng kiến gần như đầy đủ những gì Hà Nội đang phải gánh.
Công nghiệp hóa Việt Nam trong biến động địa chính trị kinh tế thế giới
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
Nghĩ về một nền kinh tế 'tốc độ cao'
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
Còn da: Lông mọc; Còn chồi: Nảy cây
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
Gen thương mại của người Việt
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
Từ động lực truyền thống đến sức bật tăng trưởng mới
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
Cải thiện môi trường kinh doanh: Không chỉ sửa luật, còn phải đổi tư duy thực thi
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
Mục tiêu GDP 10% từ 2026: Việt Nam có gì để tăng tốc?
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
Lãi suất tăng: Có hay không rủi ro ‘quay xe’ chính sách tiền tệ?
(VNF) - Đà tăng lãi suất thời gian qua làm dấy lên những lo lắng về rủi ro đảo chiều chính sách tiền tệ, cũng như quan ngại về tác động tới các hoạt động đầu tư, kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực bất động sản. Để mở rộng góc nhìn về vấn đề nóng bỏng và gây nhiều tranh luận này, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Huy – CEO Khoa Tài chính ngân hàng - Đại học Nguyễn Trãi:
Lo xung đột giữa DN nhà nước và tư nhân: Cần ‘phân định rõ sân chơi’
(VNF) - Theo GS. TS Hoàng Văn Cường, để doanh nghiệp nhà nước ở vị thế dẫn dắt nền kinh tế đúng với tinh thần của Nghị quyết 79, nhà nước cần làm tốt vai trò “phân định sân chơi” ngay từ đầu, tránh tiềm ẩn nguy cơ xung đột.
'Lệch pha' giữa quy định và thực thi
(VNF) - Việc hơn 300.000 tấn thực phẩm bị ùn ứ tại cửa khẩu sau khi Nghị định 46/2026/NĐ-CP có hiệu lực đã bộc lộ rõ những điểm nghẽn trong thực thi chính sách. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính, Chuyên gia Kinh tế Huỳnh Thị Mỹ Nương, chỉ ra nguyên nhân của sự “lệch pha” giữa quy định và thực thi, đồng thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ nhằm góp phần bảo vệ chuỗi cung ứng và niềm tin doanh nghiệp.
Từ ách tắc Nghị định 46: Thêm 1 phép thử năng lực thực thi chính sách
(VNF) - Việc Nghị định 46/2026/NĐ-CP vừa có hiệu lực đã khiến hàng nghìn lô hàng ùn ứ tại cửa khẩu không chỉ là một trục trặc kỹ thuật trong quản lý chuyên ngành, mà còn làm lộ điểm nghẽn của quá trình thực thi chính sách. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, câu chuyện này đặt ra câu hỏi lớn về năng lực phối hợp, dự báo và kỷ luật thể chế.
Ách tắc 300.000 tấn thực phẩm: Lộ rõ điểm nghẽn cần cải cách
(VNF) - Những vụ việc như ách tắc 300.000 tấn hàng, DN hóa chất khó khăn nhập hàng hóa và nhiều vụ việc khác tiếp tục cho thấy những bất ổn trong môi trường kinh doanh Việt Nam. Luật sư Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW cho rằng, việc các lô hàng nhập khẩu bị ách tắc tại cảng do không xin được giấy phép về vệ sinh an toàn thực phẩm là hệ quả trực tiếp của sự chậm trễ trong hướng dẫn thi hành luật. Đây chính là một điểm nghẽn cần cải cách mạnh mẽ trong thời gian tới
Luật đã có nhưng không thể thực thi: DN mắc kẹt vì 'luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư
(VNF) - Luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, việc Luật Hóa chất (sửa đổi) có hiệu lực nhưng thiếu hướng dẫn kịp thời đã tạo ra khoảng trống pháp lý, khiến doanh nghiệp “mắc kẹt”, còn cơ quan quản lý lúng túng khi giải quyết thủ tục, làm gia tăng rủi ro và chi phí cho hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Đầu tư công 1 triệu tỷ và room tín dụng 15%: Dòng tiền 2026 về đâu?
(VNF) - PGS.TS Ngô Trí Long đánh giá rằng, trong bối cảnh chính sách tài khoá được đẩy mạnh với gần 1 triệu tỷ đồng “bơm” vào nền kinh tế nhưng room tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, đây sẽ là một năm kiểm nghiệm năng lực điều hành kinh tế trong thế cân bằng “khó”.
Giữ đà tăng trưởng 10% trong 5 năm tới: Khơi thông đầu tư tư nhân trong nước
(VNF) - Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 – 2030, theo ông Nguyễn Bá Hùng - Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, việc cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và khơi thông nguồn lực của khu vực tư nhân sẽ giữ vai trò then chốt đối với tăng trưởng bền vững trong những năm tới.
GS. Nguyễn Xuân Thắng: Đại hội XIV sẽ 'xác lập mô hình tăng trưởng mới'
GS. Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã "phát đi thông điệp mạnh, thể hiện tinh thần hành động cao với các đột phá rõ ràng, nổi bật là xác lập mô hình tăng trưởng mới".
Từ vụ 130 tấn lợn bệnh ở Đồ hộp Hạ Long: Những lỗ hổng trong công tác hậu kiểm
(VNF) - Luật sư Nguyễn Văn Tuấn - Giám Đốc Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội) cho rằng, vụ việc 130 tấn lợn nhiễm dịch được đưa vào sản xuất tại Công ty Đồ hộp Hạ Long là minh chứng điển hình cho những lỗ hổng lớn trong cơ chế hậu kiểm an toàn thực phẩm. Khi nguyên liệu bẩn lọt qua các khâu giám sát trong thời gian dài cho thấy việc kiểm tra sau cấp phép còn nặng hình thức, chưa đủ khả năng ngăn chặn và phát hiện vi phạm từ sớm.
130 tấn lợn bệnh ở Đồ hộp Hạ Long: 'Làm sụp đổ niềm tin của nhiều người tiêu dùng'
(VNF) - Theo TS. Luật sư Đặng Văn Cường, vụ việc phát hiện 130 tấn thịt lợn nhiễm dịch tả châu Phi không chỉ là sai phạm của cá nhân trực tiếp thu gom, chế biến mà trước hết thuộc về trách nhiệm quản lý, điều hành của doanh nghiệp, đặc biệt là người đứng đầu.
Việt Nam vào top 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới: Tăng trưởng nhanh nhưng không đánh đổi ổn định vĩ mô
(VNF) - Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, yêu cầu giữ vững ổn định vĩ mô được xác định là nguyên tắc xuyên suốt. Theo PGS.TS Bùi Quang Tuấn, tăng trưởng nhanh luôn đi kèm rủi ro, song không thể đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và các cân đối lớn để chạy theo con số tăng trưởng ngắn hạn; bài toán cốt lõi là tìm được điểm cân bằng nhằm bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn.
'Tăng trưởng GDP giống như một cơn mưa, nhưng chỉ rơi vào mái nhà của các tỷ phú'
(VNF) - Ông Đỗ Cao Bảo, thành viên HĐQT Tập đoàn FPT ví tăng trưởng GDP giống như một cơn mưa, nhưng cơn mưa đó lại rơi vào mái nhà của các tập đoàn lớn, của các doanh nghiệp làm ăn tốt, của các tỷ phú.
Bảo hiểm nhân thọ đối mặt nhiều tác động mới: Năm 2026, đào tạo là giải pháp cứu cánh
(VNF) - Theo chuyên gia, năm 2026 thị trường bảo hiểm nhân thọ có một số yếu tố ảnh hưởng mới, do đó để tăng trưởng bền vững, các doanh nghiệp bảo hiểm cần tập trung vào “đào tạo” song song 2 mục tiêu: đại lý/tư vấn viên và khách hàng.
Trung tâm tài chính quốc tế: 'Bước đi chiến lược, nâng chất lượng tăng trưởng của Việt Nam'
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Đại học Kinh tế TP. HCM (UEH), Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP. HCM (IFC-HCM) khẳng định việc công bố thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa mở rộng không gian phát triển cho lĩnh vực tài chính, mà còn được nhìn nhận là bước đi chiến lược nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Kinh tế Việt Nam qua 'lăng kính' chuyên gia: Nhìn lại 2025, khai mở dư địa 2026
Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng của kinh tế nước ta trong bối cảnh thế giới biến động mạnh, bất ổn gia tăng và các cú sốc bên ngoài diễn ra dồn dập.
Di dời đại học khỏi nội đô: Hà Nội đứng trước một lựa chọn lớn
(VNF) - Sáng qua, khi đi vào giờ cao điểm trên đường Nguyễn Trãi, tôi chứng kiến gần như đầy đủ những gì Hà Nội đang phải gánh.
Giá vàng bạc ‘lao dốc’, người dân dồn nhau xếp hàng mong bắt đáy
(VNF) - Sáng ngày 20/3, ghi nhận cảnh người dân xếp hàng dài mua vàng, bạc trong bối cảnh giá vàng bạc trong nước và thế giới đều giảm.
































































