Giáo sư Nguyễn Mại: 'Coi trọng chất lượng và hiệu quả FDI'
Giáo sư TSKH Nguyễn Mại -
30/08/2018 12:34 (GMT+7)
(VNF) - Việt Nam đã trải qua ba thập niên thành công trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) góp phần thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tuy vậy vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để nâng cao chất lượng và hiệu quả FDI.
Coi trọng chất lượng và hiệu quả FDI. Ảnh minh họa
Xu hướng mới của FDI toàn cầu
Theo báo cảo của Diễn đàn thương mại và phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD), FDI toàn cầu năm 2017 là 1.520 tỷ USD, giảm 16% so với năm 2016, trong đó FDI ra nước ngoài của Mỹ giảm nhiều nhất, hơn 30% và Anh 60%; dự kiến năm 2018 có thể phục hồi bằng năm 2016 khoảng 1.700 tỷ USD.
Trung Quốc vẫn là nước thu hút FDI nhiều nhất trong các nền kinh tế mới nổi, đã trở thành quốc gia đầu tư ra nước ngoài chỉ đứng sau Mỹ. Các nhà đầu tư Trung Quốc không những đang thực hiện nhiều dự án FDI ở châu Á, châu Phi mà đã thành công trong M&A (mua bán & sáp nhập) tại Mỹ và châu Âu.
Tuy vậy, do Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách thu hút FDI theo hướng giảm ưu đãi cho nhà đầu tư, bắt buộc doanh nghiệp FDI phải chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước, cộng thêm tác động của chính sách bảo hộ mâu dịch của Tổng thống Donal Trump với phương châm “Nước Mỹ trước hết” nên trong vài năm gần đây đã có nhiều nhà đầu tư chuyển vốn ra khỏi nước này về nước hoặc sang nước thứ ba có môi trường kinh doanh thuận lợi hơn và ít rủi ro hơn. Việt Nam là quốc gia được lựa chọn hàng đầu. Trên thực tế đã có khá nhiều nhà máy đã được chuyển từ Trung Quốc sang nước ta và xu hướng này được dự báo còn tiếp diễn trong thời gian sắp đến.
FDI chủ yếu là đầu tư xuyên biên giới của các tập đoàn đa quốc gia (TNC) thông qua việc thành lập các dự án tại các nước tiếp nhận vốn đầu tư. Để thích ứng với sự thay đổi chuỗi gia trị toàn cầu trong thời đại mới, TNCs đã áp dụng phương thức mới để tiếp cận thị trường không theo phương thức truyền thống nhưng có hiệu quả hơn như thuê gia công, thuê dịch vụ, nhượng quyền, cấp phép và quản lý theo hợp đồng. Những hoạt động như vậy được gọi là “Phương thức đầu tư xuyên biên giới không góp vốn” (NEM).
Hiện nay TNCs đầu tư ra nước ngoài theo hai phương thức: 1) Góp vốn như đã được thực hiện ở Việt Nam trong 30 năm vừa qua với các hình thức chủ yếu: hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh và 100% vốn nước ngoài, M&A; 2) Không góp vốn theo NEM. Điển hình của NEM tại Việt Nam là Vingroup đã hợp tác với một số tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như GM của Mỹ, Siemen của Đức để sản xuất ô tô tại nhà máy VinFast.
Hai phương thức này có quan hệ với nhau; một số nhà đầu tư thông qua phương thức NEM trước cho đến khi kinh doanh có lợi nhuận và đạt được đồng thuận với đối tác trong nước thì chuyển sang phương thức góp vốn để tham gia quản trị doanh nghiệp.
Do vậy trong thời gian tới, quản lý nhà nước về FDI cần bao quát cả hai phương thức trên đây từ hoàn thiện thể chế cho đến triển khai dự án, kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
Cách mạng công nghiệp 4,0 và FTA thế hệ mới
Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi phải thay đổi cách tiếp cận với định hướng và chính sách thu hút FDI. Trong khi vẫn ưu tiên thu hút FDI vào công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, ít gây hiệu ứng nhà kính, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu & phát triển, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, dịch vụ hiện đại, cơ sở hạ tầng thì cũng cần coi trọng công nghệ tương lai của Cách mạng công nghiệp 4.0 để tạo ra giá trị gia tăng lớn như công nghệ thông tin, điện tử, Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn (SMA), cơ khí chế tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học.
Cách mạng công nghiệp 4.0 có liên quan đến việc làm và nhân lực; một số ngành nghề sẽ được tự động hóa, nhiều công việc rô bốt thay thế lao động của con người; nhân lực có trình độ cao là đòi hỏi cấp thiết để đáp ứng yêu cầu về chuyên môn của các nghề nghiệp mới, do đó hệ thống giáo dục cần cải cách mạnh mẽ và nhanh chóng mới đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho FDI thế hệ mới.
Cách mạng công nghiệp 4.0 thay đổi cơ bản quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp. Chính phủ điện tử và quản trị doanh nghiệp trong thời đại kỷ thuật số đòi hỏi không những thiết lập cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông tin hiện đại, mà còn thay đổi tư duy và hành động của công chức nhà nước và cán bộ quản lý doanh nghiệp để đạt được hiệu quả kinh tế- xã hội cao hơn với chi phí về thời gian và tiền của ít hơn.
Cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt ra thách thức mới cho dân tộc ta khi trình độ phát triển đất nước ở mức trung bình (thấp), đồng thời là cơ hội lớn để Việt Nam tận dụng được lợi thế nổi trội về nguồn nhân lực, công nghệ thông tin, quyết tâm của nhà nước tạo đột phá về cải cách.
Các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như CPTPP, EVFTA đều có chương về đầu tư, trong đó có những nội dung mới liên quan đến thu hút FDI.
FTA thế hệ mới đòi hỏi cao hợn về đầu tư: 1) Công khai, minh bạch và dễ dự đoán của hệ thống luật pháp và sự thay đổi của pháp luật; 2) Quyền sở hữu trí tuệ, nhất là bảo vệ bản quyền, thương quyền, xử lý nghiêm hàng nhái, hàng giả, hình sự hóa các vi phạm về sở hữu trí tuệ, 3) Lao động và quyền của người lao động bao gồm tiền lương và điều kiện làm việc, chống cưỡng bức lao động, thành lập công đoàn độc lập và 4) phòng chống tham nhũng.
Bốn vấn đề trên đây không phải là áp lực từ bên ngoài buộc Việt Nam phải thực hiện như một số nhận định không chính xác, mà cần tiếp cận theo quan điểm phát triển: đó chính là đòi hỏi của đất nước khi đã bước sang giai đoạn cao hơn, đang theo đuổi mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Tiêu chí hàng đầu của FDI: chất lượng và hiệu quả
Trong 30 năm vừa qua không có thời gian nào mà Việt Nam coi nhẹ chất lượng và hiệu quả thu hút FDI. Tuy vậy đã có sự chuyển dịch quan hệ giữa số lượng và chất lượng, cũng như cách tiếp cận về chất lượng và hiệu quả FDI.
Trong giai đoạn 1988 đến 2004 trình độ phát triển của kinh tế Việt Nam còn thấp, vấn đề lao dộng, việc làm và thu nhập là các yếu tố chính trong đầu tư, kể cả FDI; do đó các dự án thâm dụng lao động và sản xuất hàng xuất khẩu được hướng ưu đãi cao, chưa có nhiều dự án công nghệ và dịch vụ hiện đại; do vậy chất lượng và hiệu quả FDI được đánh giá gắn với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của thời kỳ đó.
Từ 2005 đến nay đất nước ngày càng phát triển, các ngành công nghệ hiện đại như công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, nông nghiệp công nghệ cao, các ngành dịch vụ tiên tiến như ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, đào tạo giáo dục, nghiên cứu khoa học được ưu đãi nhiều hơn đối với FDI. Do đó, chất lượng và hiệu quả FDI gắn liền với việc thu hút nhiều hơn các dự án thuộc những lĩnh vực này để góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới và mục tiêu gia tăng tốc độ tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững.
Từ nay về sau khi đất nước đã có tiềm lực cao hơn, đội ngũ doanh nghiệp trong nước đã đông đảo và có quy mô ngày càng lớn hơn thì chất lượng và hiệu quả FDI cũng thay đổi cho phù hợp với giai đoạn mới. Đó là gắn dự án FDI với vùng lãnh thổ và địa phương.
Trên thực tế hiện nay ở nước ta hình thành ba cấp độ phát triển: 1) Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có trình độ phát triển cao nhất, là hai địa phương có nhiều trường đại học và viện nghiên cứu khoa học hàng đầu của đất nước; 2) Một số tỉnh, thành phố do thu hút được nhiều FDI và phát triển doanh nghiệp trong nước như Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu... đã có bước tiến rõ rệt về thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, GDP/người cao hơn mức trung bình cả nước, thu ngân sách không những trang trải được nhu cầu của địa phương mà còn điều tiết ngày càng nhiều cho ngân sách trung ương; 3) Các địa phương chưa thu hút được nhiều FDI, doanh nghiệp trong nước còn ít, GDP/ người thấp hơn mức trung bình cả nước, thu ngân sách không đủ chi phải nhờ vào trợ cấp của trung ương.
Định hướng thu hút FDI cần thích ứng với trình độ của ba cấp độ phát triển:
- Hai trung tâm kinh tế, khoa học lớn của đất nước cần hướng vào các dự án công nghệ cao, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ tương lai, dịch vụ hiện đại, giáo dục đào tạo, nghiên cứu & phát triển đề thực hiện Cách mạng công nghiệp 4.0 bằng cách khai thác tiềm năng về nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ tin học, đội ngũ doanh nghiệp trong đó có nhiều tập đoàn lớn. Chính sách ưu đãi đầu tư được thực hiện đối với những dự án đáp ứng đầy đủ định hướng thu hút FDI tại hai đầu tàu kinh tế.
- Các địa phương ở cấp độ phát triển thứ hai thì căn cứ đặc thù, lợi thế của vùng kinh tế và địa phương để ưu tiên thu hút các dự án FDI công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ nhằm phục vụ cho tái cấu trúc nền kinh tế theo mô hình tăng trưởng hiệu quả và bền vững. Cần tránh tình trạng rập khuôn trong thu hút FDI như đã xảy ra đối với việc thành lập các khu công nghiệp, khu kinh tế đa ngành, đồng dạng ở nhiều địa phương, gây ra lãng phí đất đai, không đem lại lợi ích cho từng vùng và từng tỉnh. Chính sách ưu đãi đầu tư ở mỗi địa phương cần dựa trên cơ sở luật pháp thống nhất, đồng thời căn cứ đặc thù của địa phương để ban hành văn bản pháp quy nhất quán, minh bạch, không tùy tiện khi áp dụng.
- Đối với các địa phương kém phát triển thì Chính phủ và chính quyền địa phương cần huy động mọi nguồn lực, nhất là phương thức xã hội hóa để xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội như đường giao thông, điện, nước, thông tin, viễn thông, đào tạo nghề, dịch vụ pháp lý, kỹ thuật, kế toán, kiểm toán... phấn đấu trong vòng 3 đến 5 năm khắc phục về cơ bản nhược điểm đó. Tuyên Quang đang đầu tư xây dựng tuyến đường cao tốc kết nối với đường cao tốc Hà Nội- Lào Cai để rút ngắn thời gian đi ô tô từ thủ đô lên TP Tuyên Quang chỉ khoảng 1 giờ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư đến địa phương này thực hiện các dự án. Kinh nghiệm thực tế chỉ ra rằng ưu đãi đến mức cao nhất về thuế, đất đai vẫn khó thu hút được dự án FDI. Chính sách ưu đãi cần được áp dụng linh hoạt, kể cả miễn giảm thuế lâu dài những dự án tạo ra bước đột phá đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương và vùng kinh tế.
Nhân tố quyết định chất lượng và hiệu quả FDI là lựa chọn đúng dự án và nhà đầu tư. Từ năm 2006 khi Chính phủ phân cấp quyền và trách nhiệm thẩm định, cấp đăng ký đầu tư cho chính quyền tỉnh, thành phố, ban quản lý KCN, KKT đối với phần lớn dự án đầu tư (trừ dầu khí, bảo hiểm, ngân hàng...) thì quyền lựa chọn dự án và nhà đầu tư thuộc các cơ quan nhà nước đó. Chủ trương phân cấp đã có tác động tích cực trong cuộc ganh đua giữa các địa phương cải thiện môi trường đầu tư và thủ tục hành chính để thu hút FDI có hiệu quả. Tuy vậy đã nảy sinh những hiện tượng tiêu cực như dễ dãi trong thẩm tra tiềm lực của nhà đầu tư nên đã bị lợi dụng để đăng ký những dự án quy mô lớn nhằm bán lại kiếm lời, cạnh tranh ưu đãi quá mức gây thiệt hại lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương.
Để thực thi tốt hơn quyền lựa chọn đã được phân cấp, các bộ cần sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy định về phân cấp quản lý nhà nước, quy hoạch ngành, vùng lãnh thổ và địa phương, quy trình, quy phạm và định mức kinh tế- kỹ thuật để áp dụng thống nhất trong cả nước. Chính quyền địa phương, Ban quản lý KCN, KKT cần nâng cao năng lực tiếp cận, lựa chọn nhà đầu tư, thẩm định dự án FDI để bảo đảm thực hiện định hướng và chính sách mới về FDI đối với từng địa phương nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả cao hơn.
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
(VNF) - Công ty Cổ phần Giầy Thượng Đình đang lên kế hoạch chuyển đổi khu “đất vàng” tại số 277 đường Nguyễn Trãi (Hà Nội) thành tổ hợp căn hộ, văn phòng và trường học với tổng vốn đầu tư dự kiến gần 10.000 tỷ đồng.