‘Phi nông bất ổn’ và bài học 80 năm phát triển nông nghiệp Việt Nam
Tiểu Vy -
29/08/2025 17:30 (GMT+7)
(VNF) - 80 năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã chứng minh chân lý “phi nông bất ổn” khi vừa là trụ đỡ kinh tế, vừa tạo nên những bước ngoặt đưa kinh tế Việt Nam vươn ra thế giới.
Từ nạn đói 1945 đến vị thế cường quốc xuất khẩu nông sản, nông nghiệp Việt Nam đã khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế và minh chứng sức sống bền bỉ suốt 80 năm. Nhân dịp này, Tạp chí VietnamFinance trò chuyện với GS.TS Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Kĩ thuật Nông nghiệp miền Nam, để nhìn lại những dấu mốc và bài học quý giá cho tương lai.
GS.TS Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Kĩ thuật Nông nghiệp miền Nam.
- Theo ông, trong 80 năm qua, đâu là những thời điểm mang tính bước ngoặt nhất của nông nghiệp Việt Nam?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Nếu nhìn lại, có thể thấy chặng đường nông nghiệp Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn đầy thử thách và biến đổi sâu sắc. Trong chiến tranh, đất nước từng rơi vào thảm họa nạn đói năm 1945 một dấu ấn đau thương của lịch sử, trong khi đồng bằng sông Cửu Long vẫn xuất khẩu mỗi năm khoảng một triệu tấn lúa gạo. Thế nhưng, chỉ khoảng hơn một thập kỷ sau, vào những năm 1960, Việt Nam đã gây chú ý trên thế giới khi duy trì được khả năng tự túc lương thực ngay trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Thành quả đó đến từ việc miền Bắc thực hiện chính sách hợp tác xã thời chiến, còn miền Nam sớm tiếp cận và áp dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng Xanh.
Bước ngoặt tiếp theo là khi Nhà nước ban hành chính sách giao quyền sản xuất cho từng hộ nông dân. Chính sách này đã khắc phục được những hạn chế vốn tồn tại trong mô hình hợp tác xã thời chiến, đồng thời khơi dậy năng lực và trách nhiệm trực tiếp của từng nông hộ. Nhờ đó, Việt Nam đã tạo ra một cú nhảy vọt ngoạn mục: đến năm 1989, lần đầu tiên trở thành nước xuất khẩu gạo, trong bối cảnh lệnh cấm vận quốc tế vẫn chưa được gỡ bỏ hoàn toàn.
Từ đó đến nay, Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế là một trong những điểm sáng điển hình về bảo đảm an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp ở nhóm các quốc gia đang phát triển. Không dừng lại ở mức độ tự túc, chúng ta đã vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu, nằm trong tốp 15 thế giới. Đây thực sự là những thành tựu mang tính bước ngoặt, mở ra vị thế mới cho nền nông nghiệp và kinh tế Việt Nam.
- Đâu là những nguyên nhân quan trọng giúp nông nghiệp Việt Nam đạt được thành tựu vượt bậc trong 80 năm qua, thưa ông?”
GS.TS Bùi Chí Bửu: Theo tôi, có ba yếu tố nền tảng.
Thứ nhất là thủy lợi. Đến nay, 85% diện tích đất lúa của cả nước được tưới nhờ hệ thống thủy lợi; trong đó, 1,71 triệu ha có khả năng tiêu úng chủ động – con số cao nhất ASEAN. Chưa có nước đang phát triển nào đầu tư hệ thống thủy lợi quy mô và hiệu quả như Việt Nam. Đây là cơ sở vững chắc để sản xuất nông nghiệp ổn định, giảm rủi ro thiên tai và bảo đảm an ninh lương thực.
Thứ hai là giống và kỹ thuật canh tác. Cuộc cách mạng về giống lúa, cùng chương trình “ba giảm” (giảm mật độ sạ, giảm phân đạm, giảm thuốc trừ sâu) đã giúp nâng năng suất lúa bình quân tăng 2% mỗi năm. Trong khi đó, nhiều quốc gia khác đang rơi vào tình trạng “năng suất treo”, chỉ tăng dưới 1%/năm.
Thứ ba là chính sách đất đai. Việc giao quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân từ cuối thập niên 1980, đặc biệt trong những năm 1990, đã tạo ra bước ngoặt ngoạn mục. Chính sách này khơi dậy tinh thần tự chủ, gắn bó của nông dân với mảnh ruộng, giải phóng sức sản xuất.
Tuy nhiên, mô hình hợp tác xã kiểu mới vẫn chưa được triển khai đồng bộ trên toàn quốc. Đây là hạn chế cần khắc phục nếu muốn nâng tầm cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.
- Ông có thể chia sẻ những đóng góp quan trọng của ngành trong việc ổn định và phát triển đất nước xứng đang là trụ đỡ của nền kinh tế qua nhiều giai đoạn khó khăn?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng, mỗi khi đất nước rơi vào khó khăn kinh tế – tài chính, vai trò “trụ đỡ” của nông nghiệp lại càng được thể hiện rõ rệt. Người ta thường nói “phi nông bất ổn”, tức là nếu thiếu nền tảng nông nghiệp thì khó có thể duy trì sự ổn định xã hội và kinh tế.
Trong những giai đoạn khó khăn nhất, chính nông nghiệp đã bảo đảm lương thực, thực phẩm cho gần 100 triệu dân, giúp duy trì ổn định đời sống xã hội. Không chỉ dừng lại ở đó, nông nghiệp còn đóng góp nguồn ngoại tệ quan trọng thông qua xuất khẩu, hỗ trợ cân bằng cán cân thương mại trong lúc các ngành công nghiệp và dịch vụ gặp khó khăn.
Bên cạnh giá trị vật chất, nông nghiệp còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài: tạo công ăn việc làm cho phần lớn dân số nông thôn, giữ vững an sinh xã hội, đồng thời góp phần ổn định chính trị trong những thời điểm đầy biến động. Chính nhờ trụ cột này mà Việt Nam có thể vượt qua nhiều giai đoạn thử thách và từng bước đi lên con đường phát triển bền vững.
- Trong 80 năm qua, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã có nhiều thay đổi. Ông đánh giá như thế nào về những ngành hàng chủ lực giúp nông sản Việt Nam khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Có thể thấy rõ sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều ngành hàng. Trước hết là lúa gạo – xương sống của nông nghiệp Việt Nam. Chúng ta luôn nằm trong nhóm ba quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Thậm chí, xét về giá trị, có những năm Việt Nam đã vượt Thái Lan. Đặc biệt, việc xây dựng mô hình 1 triệu ha lúa chất lượng cao gắn với giảm phát thải khí nhà kính cho thấy cam kết phát triển bền vững.
Thủy sản, nhất là tôm và cá tra, cũng là điểm sáng. Nhờ vùng nguyên liệu rộng, công nghệ nuôi trồng và chế biến hiện đại, sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản.
Rau quả chứng kiến bước đột phá từ sau năm 2015, khi được đầu tư mạnh vào chế biến và bảo quản, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, mở rộng thị trường cao cấp.
Bên cạnh đó, điều và hồ tiêu duy trì vị thế số một thế giới suốt gần hai thập kỷ.
Cuối cùng, chế biến lâm sản – đặc biệt là nội thất gỗ trở thành hình ảnh bất ngờ với bạn bè quốc tế. Việt Nam đã vươn lên nhóm trung tâm chế biến gỗ và sản phẩm gỗ hàng đầu thế giới, không chỉ tạo giá trị xuất khẩu mà còn đi đầu trong xây dựng mô hình sinh thái bền vững, quản lý rừng gắn với giảm “dấu chân carbon”.
Chính sự đa dạng và phát triển đồng bộ của các ngành hàng này đã nâng tầm vị thế nông sản Việt trên bản đồ thế giới.
- Theo ông, làm sao để nâng cao giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp, trong khi nhiều nông sản vẫn xuất khẩu ở dạng thô?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Muốn nâng cao giá trị gia tăng của nông sản Việt Nam, trước hết phải nhìn thẳng vào những điểm yếu còn tồn tại. Một trong những yếu tố then chốt là kinh tế hợp tác. Việc hợp tác hóa chưa được phát triển đúng mức khiến các hộ nông dân nhỏ lẻ khó tiếp cận thông tin thị trường, hạn chế trong việc ứng dụng khoa học – công nghệ, từ đó làm suy giảm năng lực cạnh tranh. Đây là một “nút thắt” cần được tháo gỡ nếu muốn nâng tầm giá trị của nông sản.
Sau đó là mức đầu tư vào nông nghiệp còn quá thấp. Trong giai đoạn 1995 - 2005, đầu tư vào nông nghiệp chỉ duy trì ở mức dưới 5% GDP, thậm chí năm 2005 chỉ đạt 3,1%. Chỉ đến khi có sự thay đổi chính sách vào năm 2017, dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực này mới tăng lên rõ rệt, kéo theo tăng trưởng nông nghiệp đạt 2,9% trong năm 2017 và 3,93% trong sáu tháng đầu năm 2018. Thực tế này cho thấy, muốn có bứt phá, Nhà nước và xã hội cần coi trọng hơn nữa vai trò của đầu tư công và tư vào nông nghiệp.
Cuối cùng là nguy cơ tập trung đất đai. Nếu đất đai rơi vào tay một số tập đoàn lớn, tình trạng độc quyền có thể xảy ra. Điều này không chỉ tạo ra sự thay đổi trong phương thức sản xuất mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa – xã hội ở nông thôn. Khi nông dân mất đất, họ buộc phải rời bỏ ruộng đồng, dẫn đến nguy cơ đứt gãy mối liên kết cộng đồng và mất đi sinh kế bền vững. Đây là vấn đề cần được quản lý và điều tiết chặt chẽ để bảo đảm sự công bằng trong phát triển.
Bên cạnh đó, đầu tư cho khoa học – công nghệ từ phía doanh nghiệp Việt Nam còn quá hạn chế. Hiện nay, chi phí trung bình mà các doanh nghiệp dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) chỉ ở mức 0,05 – 0,1% doanh thu, thấp hơn rất nhiều so với Ấn Độ (5%) hay Hàn Quốc (10%). Nếu không có sự thay đổi mạnh mẽ, doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam sẽ rất khó nâng cao giá trị sản phẩm trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Cuối cùng, hướng đi tất yếu là phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, đặc biệt tại những vùng trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long. Muốn vậy, phải dựa trên nền tảng khoa học nông nghiệp hiện đại, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chọn tạo giống, bảo vệ thực vật, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và bảo vệ môi trường sinh thái. Đây chính là con đường để nông nghiệp Việt Nam không chỉ xuất khẩu nông sản thô, mà còn cung cấp những sản phẩm chế biến sâu, chất lượng cao, có thương hiệu và vị thế trên thị trường quốc tế.
- Trong những năm tới, theo ông, nông nghiệp Việt Nam cần phải làm gì để phát triển, bắt kịp xu thế toàn cầu?
GS.TS Bùi Chí Bửu: Muốn nông nghiệp Việt Nam bắt kịp xu thế toàn cầu, điều quan trọng nhất là phải thay đổi tư duy phát triển, trong đó đầu tư cho khoa học – công nghệ nông nghiệp đóng vai trò then chốt. Có thể nói, mức độ đầu tư hôm nay sẽ quyết định diện mạo của nông nghiệp ngày mai.
Hiện nay, nguồn vốn dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) trong nông nghiệp mới chỉ khoảng 300 tỷ đồng mỗi năm – một con số quá thấp nếu so sánh với các quốc gia trong khu vực ASEAN. Chính vì vậy, việc tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ canh tác, chế biến và bảo quản là con đường tất yếu để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt.
Bên cạnh đó, hợp tác hóa nông nghiệp cần được triển khai quyết liệt và đồng bộ, giống như cách Nhà nước từng chỉ đạo xây dựng các công trình hạ tầng trọng điểm như đường cao tốc hay lưới điện cao thế. Chỉ khi nông dân liên kết lại với nhau trong các hợp tác xã kiểu mới, họ mới đủ sức tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, có khả năng thương lượng với doanh nghiệp, tiếp cận khoa học – công nghệ và giảm bớt những rủi ro trong thị trường ngày càng biến động.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng cực đoan, toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng, việc tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi, gắn với tiêu chuẩn xanh và bền vững, chính là hướng đi bắt buộc để nông nghiệp Việt Nam vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, vừa khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - Năm năm trước, khi Phú Quốc rục rịch trở thành Thành phố đảo đầu tiên trong cả nước, nơi đây đã là một đại công trường với hàng trăm dự án BĐS nghỉ dưỡng được ồ ạt đầu tư. Thì nay, để chuẩn bị cho Hội nghị APEC 2027, Phú Quốc hiện là một… siêu đại công trường với nhiều dự án hạ tầng giao thông, khu trung tâm sự kiện…