Bộ trưởng Trần Hồng Hà: 'Ai thấy người nước ngoài sở hữu đất thì báo tôi, tôi sẽ xử lý'
Hải Triều -
28/05/2020 07:00 (GMT+7)
Bộ trưởng Trần Hồng Hà khẳng định điều này trong buổi trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội chiều 27/5 xung quanh thông tin người nước sở hữu đất tại Việt Nam.
Bộ trưởng Trần Hồng Hà trao đổi với báo chí bên lề phiên họp Quốc hội
“Về góc độ pháp luật, tôi khẳng định không có việc cá nhân người nước ngoài được cấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam” - ông Hà nhấn mạnh.
Không nên để các nhà đầu tư lo lắng
Ông nhìn nhận thế nào về thông tin mà Bộ Quốc phòng đưa ra liên quan đến việc người nước ngoài sở hữu đất tại những khu vực trọng yếu ở Việt Nam?
Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Những ngày qua, báo chí đưa tin một số khu vực đất đai liên quan đến vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng có người nước ngoài được tiếp cận và được cấp quyền sử dụng đất. Đó là vấn đề dư luận rất quan tâm. Ở góc độ quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường, tôi cũng hết sức chú ý đến vấn đề này.
Về góc độ pháp luật, tôi khẳng định việc cá nhân người nước ngoài không được cấp quyền sử dụng đất đai. Pháp luật về đất đai qua các thời kỳ đều không quy định đối tượng cá nhân nước ngoài được sử dụng đất tại Việt Nam và không được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Luật Đất đai năm 2003 đã quy định các đối tượng được sử dụng đất, trong đó liên quan đến nước ngoài gồm 2 đối tượng: tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư. Trường hợp nhà đầu tư là cá nhân nước ngoài có nhu cầu sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì phải thành lập pháp nhân theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp.
Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 đã quy định các đối tượng được sử dụng đất, trong đó liên quan đến đối tượng nước ngoài được sử dụng đất tại Việt Nam có 3 đối tượng, gồm: Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư.
Chủ trương của Việt Nam là tạo điều kiện trên cơ sở pháp lý bình đẳng, thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài. Hiện nay chúng ta thấy kinh tế Việt Nam phát triển. Sự phát triển này có sự tham gia đóng góp của các nhà đầu tư nước ngoài, từ thương mại, dịch vụ, công nghiệp, bất động sản...
Điều này cho thấy pháp luật chúng ta tạo điều kiện rất thuận lợi để thu hút đầu tư, tạo điều kiện pháp lý để các doanh nghiệp đầu tư. Chúng ta không nên để vì những câu chuyện chưa thấy rõ mà khiến các nhà đầu tư lo lắng, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của đất nước.
Nhưng lo lắng của dư luận khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào những khu vực nhạy cảm là có cơ sở chứ, thưa ông?
Những ý kiến và quan tâm của dư luận là xác đáng. Bộ TN-MT đang thực hiện tất cả các biện pháp để ngăn chặn những hành vi sai phạm liên quan đến pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải xử lý dựa trên các điều khoản quy định khác của Luật đầu tư, Luật nhà ở. Vì vậy, cần nhất quán vấn đề này trên quan điểm có tính nguyên tắc là vừa tạo điều kiện thông thoáng để thu hút đầu tư nước ngoài, vừa đảm bảo về quốc phòng, an ninh.
Thực tế thời gian qua chúng ta cũng chú ý kết hợp phát triển kinh tế đảm bảo an ninh quốc phòng. Điều 13 của Nghị định 43, Điều 58 của Luật Đất đai 2013 quy định là đối với những khu vực quy hoạch mà liên quan đến các vị trí chiến lược an ninh quốc phòng thì bất cứ dự án nào từ khâu quy hoạch đến khi cấp giấy chứng nhận đều phải xin ý kiến của Bộ Quốc phòng, Ngoại giao, Công an. Quy định rất rõ như vậy.
Pháp luật không bảo vệ những anh “núp bóng”
Còn những dự án ở Đà Nẵng, như Bộ Quốc phòng nêu, thì ông thấy sao?
Ngay từ năm 2019, cá nhân tôi đã yêu cầu Đà Nẵng rà soát kiểm tra trên toàn bộ TP, đồng thời phát hiện có hiện tượng là một số khu vực liên quan đến an ninh quốc phòng có doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài.
Tuy nhiên, kết quả kiểm tra cho thấy họ không vi phạm giao đất cho cá nhân. Tất cả hình thức giao đất đều cho pháp nhân - doanh nghiệp. Việc giao đất đó cho 2 trường hợp, thứ nhất là doanh nghiệp liên doanh; thứ 2 là mua cổ phần và họ đầu tư trên lĩnh vực bất động sản, kinh doanh thương mại.
Bộ cũng phát hiện tại khu vực này có vi phạm. Điển hình như như giao cho tổ chức nhưng đất đó là đất ở thì không thể kinh doanh được hoặc là khu vực này chưa thực hiện nghiêm Luật Đất đai 2013 mà vẫn theo Luật 2003, tức là chưa hỏi ý kiến các cơ quan an ninh quốc phòng về vấn đề doanh nghiệp hoạt động ở khu vực đó có liên quan đến vấn đề gì hay không…
Quá trình rà soát, nếu doanh nghiệp đáp ứng các quy định của pháp luật thì sẽ tạo điều kiện cho họ hoạt động, và ngược lại, nếu không đủ điều kiện, có sai phạm thì cơ quan chức năng sẽ yêu cầu doanh nghiệp thay đổi, điều chỉnh hoặc phải chuyển giao lại cho Việt Nam.
Cho đến nay, theo báo cáo của Đà Nẵng thì các vấn đề thiếu sót đã được khắc phục. Đặc biệt, những vấn đề nhạy cảm thì họ đã chuyển giao cho người Việt Nam.
Còn về xử lý trách nhiệm thì sao, thưa ông?
Trách nhiệm thuộc về cơ quan chuyên môn và Bộ đã bàn giao cho TP xử lý. Thực ra vấn đề này chỉ là sai sót trong trình tự thủ tục. Nếu sai phạm nghiêm trọng thì doanh nghiệp đã khởi kiện.
Vậy theo ông, sắp tới phải làm thế nào để phòng ngừa chuyện này?
Tôi xin khẳng định là pháp luật không bảo vệ những anh “núp bóng”. Nhưng tôi cũng không loại là có hiện tượng “núp bóng” và có những mỗi quan hệ phức tạp ở đây. Cho nên, chúng ta phải tính toán để dự báo và kiểm soát chặt chẽ vấn đề này.
Với trách nhiệm của mình, Bộ TN-MT đang nghiên cứu để tiếp tục tham mưu hoàn thiện chính sách pháp luật đất đai. Trong đó thực hiện tốt như quy hoạch, xác định vùng có vị trí địa thế chiến lược về quốc phòng an ninh để đưa ra cơ chế đặc biệt trong vấn đề giao đất, cho thuê đất và cấp quyền sử dụng đất.
Cần có sự tham gia một thống nhất với các cơ quan chức năng, sự vận dụng một cách đồng bộ với các luật khác như pháp luật về đầu tư, pháp luật về nhà ở, pháp luật về hôn nhân gia đình để tạo ra các tiêu chí điều kiện nhằm hạn chế các quyền tiếp cận đất đai đối với người nước ngoài. Chúng ta phải kiểm soát được vấn đề này.
Cần phải tính toán đối với cả các hoạt động của các doanh nghiệp. Ví dụ nếu giao đất cho doanh nghiệp Việt Nam đầu tư thì chưa cần quan tâm lắm đến vấn đề an ninh quốc phòng. Nhưng sau cổ phần hoá thì như thế nào? Điều kiện cổ phần hoá, việc tiếp nhận mua cổ phần, chuyển nhượng phải có điều kiện như thế nào?
Hiện nay Luật Đất đai đang quy định khá chặt chẽ về chuyện không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nước ngoài, nhưng Luật Nhà ở thì người nước ngoài (tất nhiên là có điều kiện) thì được mua nhà, mua căn hộ.
Luật Đầu tư sắp tới sẽ tính, những khu vực xác định là khu vực trọng yếu thì vẫn phải kết hợp kinh tế với an ninh quốc phòng.
Để phát triển kinh tế, theo tôi cần dựa trên mô hình phù hợp, tính toán cơ chế đặc thù. Cơ quan chức năng cũng phải tính toán để kiểm soát có thể có người nước ngoài “núp bóng” sở hữu đất ở Việt Nam. Nếu để xảy ra sai phạm thì xử lý thật nghiêm.
Người Việt Nam mua thì phải chứng minh được dòng vốn, dòng tiền, hay sẽ hạn chế quyền mua, không được mua nhiều đất ở những nơi trọng yếu và đất này không được quyền chuyển nhượng, hoặc chuyển nhượng thì phải có điều kiện.
Vừa qua ta phát triển được là nhờ sử dụng tốt nguồn lực đất đai. Tuy nhiên phải kết hợp đảm bảo an ninh quốc phòng. Đây là nhiệm vụ chiến lược, rất quan trọng. Chúng tôi không lúc nào chủ quan về vấn đề này.
Trở lại câu chuyện chất vấn lần trước, ông có trả lời chưa nghe có việc người nước mua đất ở các vị trí này. Nay các đại biểu đã dẫn lại, ông có muốn giải thích không?
Tôi là một người nói dựa trên số liệu. Cho đến giờ, tôi vẫn bảo lưu ý kiến này: Tôi chưa thấy một cá nhân nước ngoài nào được cấp quyền sở hữu đất cả, bởi Luật đất đai quy định như thế. Còn ai thấy thì báo tôi, tôi sẽ xử lý ngay người cấp vì vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Đà tăng lãi suất thời gian qua làm dấy lên những lo lắng về rủi ro đảo chiều chính sách tiền tệ, cũng như quan ngại về tác động tới các hoạt động đầu tư, kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực bất động sản. Để mở rộng góc nhìn về vấn đề nóng bỏng và gây nhiều tranh luận này, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Huy – CEO Khoa Tài chính ngân hàng - Đại học Nguyễn Trãi:
(VNF) - Theo GS. TS Hoàng Văn Cường, để doanh nghiệp nhà nước ở vị thế dẫn dắt nền kinh tế đúng với tinh thần của Nghị quyết 79, nhà nước cần làm tốt vai trò “phân định sân chơi” ngay từ đầu, tránh tiềm ẩn nguy cơ xung đột.
(VNF) - Việc hơn 300.000 tấn thực phẩm bị ùn ứ tại cửa khẩu sau khi Nghị định 46/2026/NĐ-CP có hiệu lực đã bộc lộ rõ những điểm nghẽn trong thực thi chính sách. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính, Chuyên gia Kinh tế Huỳnh Thị Mỹ Nương, chỉ ra nguyên nhân của sự “lệch pha” giữa quy định và thực thi, đồng thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ nhằm góp phần bảo vệ chuỗi cung ứng và niềm tin doanh nghiệp.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.