Doanh nghiệp 'biểu tượng' của Việt Nam về tay nước ngoài: 'Cần hoàn thiện cơ chế kiểm soát'
Hoàng Hà -
15/08/2022 20:08 (GMT+7)
(VNF) - Theo TS. Lê Thái Hà, việc hạn chế sự thâu tóm của giới đầu tư nước ngoài vào các công ty quan trọng trong các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế, nhất là trong những trường hợp có thể mang động cơ chính trị, là cần thiết.
TS. Lê Thái Hà, Giám đốc điều hành của Giải thưởng VinFuture, Quỹ VinFuture.
Nhiều chuyên gia nhìn nhận rằng, M&A là tất yếu của một cuộc chơi kinh doanh, bởi doanh nghiệp Việt cần những người đồng hành đủ lực và đủ tầm để tiến xa hơn. Chính vì vậy, ngày càng có nhiều thương vụ M&A giữa nhà đầu tư ngoại cùng doanh nghiệp nội với giá trị ngày càng lớn. Tuy nhiên, không ít ý kiến băn khoăn về việc nhiều doanh nghiệp “biểu tượng” của Việt Nam về tay nước ngoài.
Để làm rõ hơn vấn đề này, VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với TS. Lê Thái Hà, Giám đốc điều hành của Giải thưởng VinFuture, Quỹ VinFuture.
- Bà có nhận định như thế nào về thị trường M&A tại Việt Nam trong những năm gần đây?
TS. Lê Thái Hà: Trước đại dịch Covid-19, song hành với nền kinh tế, thị trường M&A (sáp nhập và mua lại doanh nghiệp) ở Việt Nam diễn ra khá sôi động. Mặc dù nền kinh tế có trở nên im ắng hơn trong năm 2021 với mức tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,58%, nhưng đây vẫn là một năm mà các giao dịch M&A diễn ra mạnh mẽ.
Xu hướng gần đây cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư nước ngoài đối với ba lĩnh vực là tiêu dùng thiết yếu, tài chính và bất động sản ở Việt Nam. Đây cũng là các ngành thu hút nhiều thương vụ M&A nhất, ước tính chiếm 55 - 60% tổng giá trị giao dịch M&A trong nước những năm qua.
Điển hình là năm ngoái, chúng ta chứng kiến nhiều thương vụ M&A lớn trong lĩnh vực ngân hàng hay tài chính tiêu dùng ở Việt Nam. Có thương vụ với giá trị lên tới 1,4 tỷ USD như SMBC Consumer Finance (Nhật Bản) mua lại 49% cổ phần của Công ty Tài chính TNHH MTV VPBank, thuộc Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank). Hay đầu năm nay, Tập đoàn Keppel Land vừa ký thỏa thuận ràng buộc với Công ty Cổ phần Địa ốc Phú Long để mua 49% cổ phần trong 3 khu đất tại một khu đô thị ở Hà Nội với tổng giá trị khoảng 120 triệu USD.
Với nhận định gần đây của Nikkei Asia về Chỉ số phục hồi hậu Covid-19, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục có những hoạt động M&A đáng kể trong năm nay. Bên cạnh những ngành “truyền thống”, các ngành, lĩnh vực mới nổi có thể sẽ thu hút dòng vốn M&A bao gồm công nghệ và năng lượng tái tạo, hay fintech, logistics… do những nhu cầu về đầu tư cho cơ sở hạ tầng công nghệ, phát triển năng lượng xanh (để hiện thực hóa cam kết của Việt Nam tại COP26).
- Yếu tố nào khiến nhiều doanh nghiệp ngoại chọn Việt Nam làm điểm đến, thưa bà?
Có nhiều lý do cho việc này. Thứ nhất, Việt Nam tiếp tục tạo ra một môi trường đầu tư an toàn, cơ bản có sự ổn định về chính trị, kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong bối cảnh những căng thẳng địa chính trị đang diễn ra trên toàn cầu. Vai trò thay thế của Việt Nam trong chiến lược “Trung Quốc cộng một” cũng được kỳ vọng sẽ tiếp tục có lợi cho Việt Nam. Các công ty đa quốc gia tiếp tục phát triển chuỗi cung ứng của họ tại Việt Nam.
Thị trường ở Việt Nam ngày càng mở rộng nhanh chóng. Việt Nam có sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu thông qua việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do gần đây (như Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực). Chúng ta cũng có nguồn cung lao động trẻ chiếm tỷ trọng lớn với giá cả phải chăng. Những yếu tố này là những điều kiện thuận lợi thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Thêm vào đó, việc Chính phủ thực hiện thoái vốn tại một số doanh nghiệp Nhà nước đã tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài muốn mua cổ phần của các thương hiệu nổi tiếng trong nước như Petrolimex, Viglacera, Vinatex…
- Nhiều ý kiến cho rằng dịch Covid-19 kéo dài khiến doanh nghiệp Việt khó khăn, kéo theo nguy cơ bị thâu tóm bởi các nhà đầu tư nước ngoài với giá rẻ. Bà nghĩ thế nào về điều này?
Đại dịch Covid-19 khiến nền kinh tế của nhiều nước vẫn đang chịu những ảnh hưởng nặng nề. Rất nhiều doanh nghiệp, thậm chí cả những tập đoàn lớn, đầu ngành đều có thể đối mặt với nguy cơ bị nước ngoài thâu tóm với giá rẻ. Nguy cơ này không chỉ xảy ra với Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác như Ấn Độ, Đức, Ý và Tây Ban Nha. Chính phủ các nước này cũng đã lần lượt triển khai các biện pháp nhằm ngăn chặn và bảo vệ doanh nghiệp trong nước trước nguy cơ bị thâu tóm vào tay những “kẻ săn mồi” với giá rẻ để kiếm lợi nhuận nhanh chóng.
Theo tôi, việc này là cần thiết. Với những thương vụ mua lại thế này, cần kéo dài thời gian xem xét cho phép tiến hành cũng như thiết lập các biện pháp bảo vệ mới cứng rắn hơn và hiệu quả hơn.
Ví dụ, Ấn Độ có thể coi là một trong số những quốc gia có hành động cứng rắn nhất khi đã sửa đổi các quy tắc đầu tư nước ngoài của mình và yêu cầu có sự phê chuẩn của Chính phủ đối với tất cả các hoạt động đầu tư trực tiếp từ các nước láng giềng vào các công ty Ấn Độ.
- Trên thực tế, không thể phủ nhận khi có “bàn tay” của các nhà đầu tư nước ngoài, nhiều doanh nghiệp Việt vực dậy, phát triển mạnh mẽ. Nhưng bà có lo ngại gì nếu các doanh nghiệp “biểu tượng” của Việt Nam về tay nước ngoài hay không?
Đúng là trong tình hình hiện nay, doanh nghiệp đang rất cần vốn. Vì vậy, việc cho phép giao dịch M&A tạo nên một nguồn huy động vốn hiệu quả, giúp các doanh nghiệp đang khó khăn tránh rơi vào tình trạng kiệt quệ, thậm chí là phá sản. Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhận thấy rằng họ có thể cạnh tranh toàn cầu nếu bắt tay với các nhà đầu tư nước ngoài và kết hợp các nguồn lực của nhau, tạo ra một thực thể kinh doanh lớn hơn với mạng lưới phân phối lớn hơn, lợi thế kinh tế nhờ quy mô lớn hơn và nhiều nhân tài hơn ở cấp cao hơn.
Tuy nhiên, với tính chất phức tạp của hoạt động M&A, sự thận trọng là cần thiết, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng vì đại dịch và khi hệ thống luật và cơ chế giám sát của chúng ta chưa hoàn chỉnh. Thực ra, ngay cả khi đại dịch chưa xảy ra, nhiều quốc gia trong Liên minh Châu Âu (EU) hay Nhật Bản, Úc cũng đã triển khai các biện pháp hạn chế nước ngoài gia tăng thâu tóm và kiểm soát các công ty quan trọng.
Theo tôi, việc hạn chế sự thâu tóm và kiểm soát của giới đầu tư nước ngoài vào các công ty quan trọng trong các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế, nhất là trong những trường hợp có thể mang động cơ chính trị, là cần thiết.
- Giải pháp là gì, thưa bà?
Theo tôi, cần thiết kế cơ chế giám sát, sàng lọc hiệu quả để chọn được các doanh nghiệp, nhà đầu nước ngoài chất lượng và vốn sạch qua M&A. Thêm vào đó, cần có định hướng chính sách cụ thể xác định những ngành, lĩnh vực nào nên khuyến khích đầu tư theo kênh M&A (nhất là các thương vụ có yếu tố nước ngoài) và những ngành, lĩnh vực nào thì nên giới hạn. Việc này sẽ giúp ngăn chặn nguy cơ doanh nghiệp Việt Nam bị thâu tóm với giá rẻ, đặc biệt là ở các ngành chủ chốt hay nhạy cảm đến an ninh quốc gia như khai thác khoáng sản, dược phẩm, công nghiệp nặng, truyền thông giải trí, hay những doanh nghiệp ở vị trí biên giới, trọng yếu về an ninh quốc phòng.
Ví dụ, Nhật Bản xác định các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế như an ninh mạng, dầu mỏ, hàng không, năng lượng hạt nhân, viễn thông, vũ khí… và yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài có kế hoạch mua nhiều hơn 1% cổ phần của doanh nghiệp ở trong các lĩnh vực này đều phải thông báo trước với cơ quan quản lý của Chính phủ. Hay như EU, dù là một trong những thị trường lớn nhất và cởi mở nhất đối với đầu tư nước ngoài, mới đây đã đưa thêm các quy định mới về sàng lọc các khoản đầu tư nước ngoài sau khi gia tăng bất ổn chính trị trên khắp châu Âu về các vụ “mua lại” của các công ty Trung Quốc. Đặc biệt là từ khi đại dịch Covid-19 xảy ra, các quốc gia EU trở nên cảnh giác với việc các công ty công nghệ sinh học trong nước bị các thế lực từ nước ngoài thâu tóm.
Nhìn chung, việc kiểm soát giao dịch M&A có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam không những cần phù hợp với quy định pháp luật về cạnh tranh, đầu tư, chứng khoán,… mà còn phải tính đến các yếu tố như lợi ích của doanh nghiệp, nhà đầu tư, lợi ích cộng đồng cũng như vấn đề đảm bảo an ninh kinh tế, an ninh quốc gia.
- Theo bà, doanh nghiệp Việt cần làm gì để tạo dựng thương hiệu thành công trên thế giới?
Những năm gần đây, theo báo cáo và xếp hạng của Brand Finance, Việt Nam đã có sự thăng hạng ấn tượng về giá trị thương hiệu quốc gia. Cụ thể, trong giai đoạn 2016-2021, giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam đã tăng 2,75 lần từ 141 tỷ USD lên 388 tỷ USD, và hiện giữ vị trí thứ 33 trong danh sách top 100 thương hiệu mạnh nhất toàn cầu.
Nhờ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và chất lượng hàng hóa, sản phẩm trong nước ngày càng được nâng cao, doanh thu xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh. Điều này cũng giúp các thương hiệu của Việt Nam được người tiêu dùng trên toàn cầu biết đến nhiều hơn. Thêm vào đó, không thể không kể đến vai trò quan trọng của cộng đồng doanh nhân người Việt ở nước ngoài trong việc giúp kết nối và quảng bá thương hiệu, hàng hóa Việt Nam ở hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên, xếp hạng của Brand Finance cũng chỉ ra vị trí khiêm tốn trong nhiều chỉ số mà Việt Nam cần cải thiện, đặc biệt là trong các lĩnh vực quan trọng như môi trường kinh doanh và đổi mới, từ đó nâng cao giá trị thương hiệu và khả năng cạnh tranh của quốc gia.
Để tạo dựng thành công thương hiệu của mình tại các thị trường mới, ngoài chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cần trang bị đầy đủ kiến thức để thâm nhập, phát triển và đặc biệt là chú trọng đến việc bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các thương hiệu sản phẩm của mình ở nước ngoài.
Điều quan trọng là, bên cạnh việc xác định các lợi thế riêng và sự khác biệt, các doanh nghiệp trong nước cũng cần cập nhật các xu hướng toàn cầu. Cụ thể, chiến lược phát triển của doanh nghiệp cần xem xét, tích hợp các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc để hướng đến một thương hiệu xanh, có tính bền vững.
Đồng thời, cần thúc đẩy mối quan hệ bền chặt giữa các nhà cung cấp trong nước với các nhà phân phối nước ngoài cũng như thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài đưa sản phẩm Việt Nam vào các kênh, hệ thống phân phối ở nước ngoài. Việt Nam cũng nên ký kết thêm nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.
(VNF) - Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, việc lựa chọn động lực dẫn dắt trở nên đặc biệt quan trọng. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, tài chính, đặc biệt là tài chính công nghệ, cần được xác định là mũi nhọn chiến lược nếu muốn tạo bứt phá về năng suất, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao vị thế của nền kinh tế trong dài hạn.
(VNF) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng vận hành của hoạt động đầu tư, kinh doanh, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của rủi ro pháp lý và tranh chấp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn phải thiết kế lại tư duy quản trị rủi ro theo hướng chủ động, xuyên suốt toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
Trong cuộc đua nhân sự, nhiều doanh nghiệp TP.HCM đẩy nhanh cấp bậc qua danh xưng để hút ứng viên, nhưng không đi kèm lương, quyền lợi tương xứng, khiến người lao động vỡ kỳ vọng.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, việc lựa chọn động lực dẫn dắt trở nên đặc biệt quan trọng. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, tài chính, đặc biệt là tài chính công nghệ, cần được xác định là mũi nhọn chiến lược nếu muốn tạo bứt phá về năng suất, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao vị thế của nền kinh tế trong dài hạn.
(VNF) - Sau hơn một năm khởi công, dự án cầu đi bộ vượt sông Sài Gòn đang bước vào giai đoạn thi công cao điểm với nhiều hạng mục quan trọng dần hoàn thiện, tạo hình rõ nét cho một công trình được kỳ vọng trở thành điểm nhấn kiến trúc mới của TP. HCM.