PGS.TS Phạm Thế Anh: ‘Đầu tư công là cứu tinh của nền kinh tế lúc này’
Xuân Hải -
18/03/2020 11:10 (GMT+7)
(VNF) – PGS.TS Phạm Thế Anh, Trưởng Bộ môn Kinh tế Vĩ mô – Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng trong bối cảnh tổng chi tiêu từ khu vực doanh nghiệp và người dân giảm sút do dịch bệnh, vai trò của đầu tư công trở nên quan trọng hơn bao giờ hết để cứu vãn nền kinh tế khỏi suy thoái.
PGS.TS Phạm Thế Anh
Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có động thái cắt giảm lãi suất điều hành và hạ trần lãi suất huy động. Đây được xem là một phần trong kế hoạch hành động của Chính phủ nhằm ứng phó với sự suy giảm của nền kinh tế do tác động của đại dịch Covid-19.
Để hiểu sâu hơn về bước đi của Ngân hàng Nhà nước nói riêng, Chính phủ nói chung trong việc cắt giảm lãi suất, VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Phạm Thế Anh:
- Ông đánh giá như thế nào về việc cắt giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước?
PGS.TS Phạm Thế Anh: Việc cắt giảm lãi suất là một cách Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ các ngân hàng thương mại, cụ thể là giảm chi phí vốn ngắn hạn cho các ngân hàng này. Từ đó các ngân hàng thương mại có thêm không gian để giảm lãi suất, giãn nợ, cơ cấu lại nợ… cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, động thái của Ngân hàng Nhà nước cũng có tác động tâm lý tích cực tới thị trường.
- Theo ông, tác động của việc cắt giảm lãi suất có mạnh không và liệu đây có phải là một tín hiệu cho thấy Ngân hàng Nhà nước muốn thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng?
Tôi nghĩ tác động của việc cắt giảm lãi suất không mạnh vì mức lãi suất cắt giảm rất thấp. Nhưng trong điều kiện hiện nay, Ngân hàng Nhà nước chưa thể hạ lãi suất nhiều được, càng không thể hạ một cách mạnh tay như Mỹ (xuống 0%) vì đặc điểm kinh tế của Việt Nam khác.
Do vậy, việc cắt giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước nên được xem là một phần của chính sách tiền tệ để giảm chi phí vốn ngắn hạn cho ngân hàng thương mại chứ chưa hẳn đã là chính sách tiền tệ mở rộng. Mở rộng tiền tệ, trong bối cảnh Việt Nam, cần phải nhìn thêm vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mà Ngân hàng Nhà nước cho phép đối với các ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, dù cắt giảm lãi suất ở mức độ nào, thì chính sách tiền tệ dưới tác động của dịch bệnh cũng có tác động nhỏ tới tổng cầu của nền kinh tế, nó chỉ có tác động làm giảm chi phí vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp.
- Ông có thể lý giải nguyên nhân vì sao Ngân hàng Nhà nước chỉ hạ trần lãi suất ở mức rất thấp (0,25 điểm %) và chỉ hạ ở kỳ hạn dưới 6 tháng?
Tôi cho rằng đây là kĩ thuật điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Việc cắt giảm nhỏ giọt có thể được hiểu là Ngân hàng Nhà nước muốn để dành dư địa chính sách cho những can thiệp nếu cần trong tương lai. Và việc chỉ điều chỉnh lãi suất ngắn hạn thiên về hướng hỗ trợ thanh khoản và chi phí vốn ngắn hạn cho các ngân hàng thương mại, để từ đó họ có thể giảm giá vốn ngắn hạn cho các doanh nghiệp.
Việc điều chỉnh lãi suất dài hạn thường khó khăn hơn bởi lãi suất dài hạn còn phụ thuộc vào lạm phát. Nếu ép lãi suất tiền gửi dài hạn xuống thấp trong bối cảnh lạm phát cao thì rất có thể các ngân hàng thương mại sẽ không hút được vốn dài hạn, tiền sẽ chảy ra thị trường tài sản vào tạo ra các bong bóng giá.
Do vậy, Ngân hàng Nhà nước chỉ hạ trần với lãi suất kỳ hạn ngắn, còn kỳ hạn dài không thể ép được.
Mặt khác, cũng có thể nói việc Ngân hàng Nhà nước chỉ tác động tới lãi suất ngắn hạn, trong khi thả nổi lãi suất dài hạn, chính là cách giúp các ngân hàng thương mại huy động được nhiều vốn dài hạn hơn. Hiện nay trong các ngân hàng thương mại, tình trạng mất cân đối giữa huy động ngắn hạn – cho vay trung/dài hạn rất lớn. Nhiều ngân hàng thương mại đang gặp khó trong việc đáp ứng lộ trình giảm tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung/dài hạn của Ngân hàng Nhà nước. Cách tốt nhất để giúp các ngân hàng thương mại này là để họ tự quyết lãi suất dài hạn và làm lãi suất ngắn hạn kém hấp dẫn đi.
Việc này là tốt và về cơ bản, can thiệp hành chính chỉ nên dừng ở lãi suất ngắn hạn thôi.
- Việc cắt giảm lãi suất và yêu cầu các ngân hàng giãn nợ, cơ cấu nợ… thực chất là đang hi sinh lợi ích của các ngân hàng để “cứu” doanh nghiệp. Ông nghĩ mức độ hi sinh của các ngân hàng đến đâu?
Ngân hàng phải chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp trong bối cảnh này, vì doanh nghiệp có sống được thì ngân hàng mới sống được, doanh nghiệp chết thì ngân hàng cũng chết theo.
Mặt khác, trong mấy năm qua, ngành ngân hàng đã báo lãi rất lớn rồi, vì vậy đến lúc có khó khăn các ngân hàng nên và cần chia sẻ với doanh nghiệp bằng cách giãn nợ, cơ cấu lại nợ, giảm lãi suất, giúp họ tồn tại qua được dịch bệnh.
Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện vai trò hỗ trợ của mình đối với các ngân hàng thương mại thông qua việc hạ lãi suất điều hành, hỗ trợ thanh khoản, hoặc xem xét tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho những ngân hàng có những hỗ trợ thiết thực đối với các doanh nghiệp.
Việc các ngân hàng phải hi sinh bao nhiêu để “cứu” doanh nghiệp thì khó nói, nhưng ngay cả xác định năm nay không có lãi thì các ngân hàng cũng phải chia sẻ với doanh nghiệp thôi.
- Dịch bệnh đã khiến tổng cầu bị suy giảm mạnh, ông có nghĩ việc cắt giảm lãi suất sẽ kích thích được tổng cầu không?
Có thể nói sự khó khăn của nền kinh tế hiện nay do yếu tố tự nhiên (dịch bệnh) nhiều hơn là do các yếu tố kinh tế. Vì vậy, các biện pháp cắt giảm lãi suất hay kích thích tổng cầu của khu vực tư nhân không có nhiều tác dụng. Người dân hạn chế ra đường, hạn chế chi tiêu thì có kích thích mấy nữa họ cũng không làm.
Tuy nhiên, mục tiêu của chính sách tiền tệ hiện nay không hẳn là kích thích tổng cầu mà hướng nhiều hơn tới việc giải quyết thanh khoản cho doanh nghiệp, giúp họ sống sót được qua thời gian khó khăn này. Chúng ta thấy chính sách tài khóa cũng đang hướng tới điều này, như giảm thuế, miễn thuế phí, gia hạn nộp thuế, hoãn đóng BHXH … Tôi cho đây là mục tiêu rất đúng.
- Vậy tổng cầu năm nay phải nhìn vào đâu?
Nếu muốn gia tăng tổng cầu trong thời điểm này thì phải dùng chính sách chi tiêu chính phủ, đầu tư công. Thực tế cho thấy Chính phủ cũng đang có nhiều hành động phù hợp, tiêu biểu là thúc đẩy các dự án đấu tư công đã được phê duyệt, thậm chí là chuyển những dự án BOT sang đầu tư công để có thể thực hiện nhanh.
Nói cho đúng thì việc thúc đẩy đầu tư công cũng không phải đợi khi xuất hiện dịch Covid-19 mới có. Ngay từ đầu năm, nhận thấy kinh tế năm trước giảm tốc, Chính phủ đã có những định hướng thúc đẩy đầu tư công năm nay rồi.
- Đầu tư công sẽ là cứu tinh?
Đúng vậy, đầu tư công sẽ đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Một mặt, đầu tư công giải quyết đúng nhu cầu của nền kinh tế là phải xây dựng cơ sở hạ tầng, mặt khác việc đầu tư công thực hiện đúng thời điểm nền kinh tế đang cần. Tuy nhiên, đầu tư công phải đúng mục đích và chỉ nên giới hạn trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, y tế và giáo dục. Đặc biệt là phải có sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội để tránh xảy ra những hậu quả đáng tiếc sau này.
Trong lúc cầu chi tiêu từ khu vực doanh nghiệp và dân cư đang giảm sút do dịch bệnh, nhà nước cần đóng vai trò là đối tượng chi tiêu chính. Việc này sẽ tạo ra thu nhập cho nền kinh tế, kéo chi tiêu của nền kinh tế lên.
- Qua phân tích của ông, có thể thấy các giải pháp của Chính phủ hiện đang tỏ ra đúng đắn?
Tôi thấy các bước đi của Chính phủ đúng hướng và có liều lượng vừa phải, chưa có gì thái quá. Đơn cử như việc điều chỉnh lãi suất vừa rồi của Ngân hàng Nhà nước, họ nói việc giãn nợ, giảm nợ cho doanh nghiệp là việc của ngân hàng thương mại và doanh nghiệp chứ Chính phủ không bơm tiền tài trợ cho chi phí đó, tôi thấy như vậy là phù hợp…
(VNF) - Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, việc lựa chọn động lực dẫn dắt trở nên đặc biệt quan trọng. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, tài chính, đặc biệt là tài chính công nghệ, cần được xác định là mũi nhọn chiến lược nếu muốn tạo bứt phá về năng suất, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao vị thế của nền kinh tế trong dài hạn.
(VNF) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng vận hành của hoạt động đầu tư, kinh doanh, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của rủi ro pháp lý và tranh chấp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn phải thiết kế lại tư duy quản trị rủi ro theo hướng chủ động, xuyên suốt toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
Trong cuộc đua nhân sự, nhiều doanh nghiệp TP.HCM đẩy nhanh cấp bậc qua danh xưng để hút ứng viên, nhưng không đi kèm lương, quyền lợi tương xứng, khiến người lao động vỡ kỳ vọng.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, việc lựa chọn động lực dẫn dắt trở nên đặc biệt quan trọng. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, tài chính, đặc biệt là tài chính công nghệ, cần được xác định là mũi nhọn chiến lược nếu muốn tạo bứt phá về năng suất, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao vị thế của nền kinh tế trong dài hạn.
(VNF) - Khi cả nước bước vào kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5, trên các công trường dự án cao tốc, hàng nghìn cán bộ, kỹ sư, công nhân vẫn miệt mài bám công trường, khẩn trương thi công để giữ vững tiến độ, góp phần đưa những dự án trọng điểm về đích đúng hẹn.