GS.TSKH Đặng Hùng Võ: 'Luật Đất đai cần được thiết kế vì sự phát triển'
Anh Minh - Trần Lệ -
01/11/2023 10:34 (GMT+7)
(VNF) - GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã có cuộc trò chuyện với Đầu tư Tài chính - VietnamFinance về hành trình 30 năm của Luật Đất đai, trong bối cảnh Quốc hội dự kiến sẽ xem xét thông qua Luật Đất đai sửa đổi vào cuối tháng này.
GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
GS.TSKH Đặng Hùng Võ nói: Thực tế Luật Đất đai đầu tiên của thời Đổi mới là luật được ban hành vào năm 1987. Sau Đổi mới, hai luật ra đời sớm nhất là Luật Đất đai và Luật Đầu tư nước ngoài đều ban hành vào năm 1987 có hiệu lực từ năm 1988.
Luật Đất đai 1987 được xây dựng dựa trên Hiến pháp năm 1980, thể hiện đúng tinh thần của Hiến pháp 1980, rất “khô cứng” trong vấn đề sở hữu, do đó không tác động gì nhiều đến thị trường. Luật chỉ thể hiện được một điều mà trên thực tế đã diễn ra, là đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng giao quyền sử dụng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
- Quá trình xây dựng Luật Đất đai năm 1993 đã diễn ra như thế nào?
Từ thực tế nêu trên, Chính phủ đưa ra kế hoạch sửa Luật Đất đai. Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã giao cho Phó Thủ tướng Trần Đức Lương chuyên trách việc sửa Luật Đất đai để hình thành nên Luật Đất đai năm 1993. Nội dung đổi mới quan trọng nhất được Quốc hội thông qua trong Luật Đất đai 1993 là trao 5 quyền cho hộ gia đình, cá nhân gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê đối với đất đai. Nội dung quan trọng thứ hai là công nhận đất đai có giá và giá đó do nhà nước quy định. Cũng từ đây, nhà nước mới làm bảng giá đất và mỗi năm Chính phủ duyệt hệ số cho các năm sau đó.
Đến năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua, đã mở ra cách tiếp cận thị trường quyền sử dụng đất khá tốt. Hình thức nhà nước giao đất được áp dụng cho 3 trường hợp: giao đất nhà ở; giao đất làm khu công nghiệp thời hạn 50 năm; đổi đất lấy hạ tầng. Luật cũng cho phép các tổ chức kinh tế được chuyển nhượng, chỉ cần thời hạn sử dụng đất còn lớn hơn 5 năm. Điều này đã mở ra thị trường chuyển nhượng rất lớn vào năm 1998.
Năm 2001, Luật Đất đai được sửa thêm một lần nữa, trong đó thống nhất được vấn đề phân cấp. Nếu như Luật Đất đai 1993 quy định quản lý đất đai thuộc Trung ương, thậm chí giao đất trên 1 ha để đầu tư dự án cũng thuộc thẩm quyền Thủ tướng thì Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã phân cấp, theo đó Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giao đất trong trường hợp đổi đất lấy hạ tầng và đất quốc phòng, an ninh, các trường hợp còn lại thuộc địa phương.
UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giao đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, dự án có yếu tố nước ngoài; UBND cấp huyện có thẩm quyền đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Ngoài ra, luật năm 2001 cũng chuyển việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cấp tỉnh đối với tổ chức, cấp huyện cấp cho hộ gia đình, cá nhân.
Đến năm 2003, Luật Đất đai được ban hành cũng tạo ra những bước đột phá, mang lại một diện mạo mới trong quản lý và sử dụng đất đai. Luật Đất đai năm 2003 đã có các quy định cụ thể về thủ tục hành chính.
Mặt khác, Luật Đất đai 2003 có nội dung đáng chú ý là chấp nhận tất cả các hợp đồng của người dân đã chuyển nhượng với nhau là hợp luật. Bên cạnh đó, Luật Đất đai 2003 cũng làm rõ được phân cấp, Trung ương không nắm quyền gì mà tất cả các quyền quyết định về đất đai và quyền quản lý đất đai giao cho địa phương. Chúng ta vẫn giữ nguyên phân cấp từ năm 2003 cho tới nay.
- Vậy đâu là những điểm còn hạn chế của Luật Đất đai năm 1993?
Khái quát lại Luật Đất đai năm 1993, tôi thấy có hai điểm tiến bộ nhất là khẳng định 5 quyền cơ bản đối với đất đai và định giá đất đai. Tuy nhiên, 5 quyền của hộ gia đình, cá nhân được khẳng định trong Luật Đất đai năm 1993 lúc ấy chưa được thực hiện trên thực tế, tức là về mặt trình tự sử dụng thế nào để thực hiện 5 quyền thì không có nghị định nào hướng dẫn.
Nhiều người không dám chuyển nhượng bởi vì chưa có hướng dẫn, nhưng cũng có nhiều người chuyển nhượng cho nhau bằng một giấy viết tay. Đến năm 1999, khi đó Chính phủ mới có Nghị định số 17/1999/NĐ-CP để hướng dẫn.
Nhược điểm tiếp theo của Luật Đất đai năm 1993 là quy định các tổ chức kinh tế phải thuê đất của nhà nước. Chúng ta cho rằng cần quản lý thị trường bằng cách yêu cầu các tổ chức muốn đầu tư thì đi thuê đất, không đầu tư nữa trả lại đất.
Nhưng điều này lại trái với cơ chế thị trường. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức được quy định trong pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, theo đó tổ chức trong nước được nhà nước giao đất, cho thuê đất. Điều này dẫn tới các vướng mắc trong thực tiễn. Chẳng hạn, một tổ chức kinh tế được thuê đất trả tiền hàng năm sử dụng vào mục đích nông nghiệp nhưng lại được mang đất nông nghiệp đó ra thế chấp, dẫn đến tình trạng rất nhiều doanh nghiệp nhà nước thuê đất xong làm ăn thua lỗ lại đi thế chấp đất thuê đó, điển hình là vụ Sobexco ở Bình Dương.
Doanh nghiệp này được giao đất không thu tiền và được quyền đi thế chấp. Sau khi thế chấp xong làm ăn thua lỗ, không trả được tiền buộc UBND tỉnh Bình Dương phải bán đấu giá khu đất nông nghiệp cho tư nhân để lấy lại tiền trả nợ.
Hạn chế nữa của Luật Đất đai năm 1993 là bảng giá đất, theo đó mỗi năm Chính phủ duyệt một hệ số cho năm tiếp theo. Tôi cho rằng cách thức này quá thủ công và sơ lược, không phải là phương pháp về quản lý giá cả.
Thế nhưng, rất tiếc cách thức này đã ăn sâu vào những nhà quản lý và cho đến nay, chúng ta vẫn đinh ninh đó là cách tốt, là công cụ rất đắc lực cho chính quyền. Ngay dự thảo Luật Đất đai 2023 mới nhất hiện nay vẫn giữ bảng giá đất. Bảng giá là chủ quan, hệ số cũng chủ quan rồi cho hai yếu tố chủ quan nhân với nhau lại cho ra kết quả thì liệu có thể gọi là khách quan?
Ngoài ra, trong Luật Đất đai năm 1993 có một câu: “Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”. Tôi nói rằng câu ấy rất lịch sự và chép nguyên của quốc tế.
Tuy nhiên, trên thực tế là thu hồi đất đối với mọi dự án mà được cấp có thẩm quyền phê duyệt và họ giải thích rằng cấp có thẩm quyền phê duyệt thể hiện quốc gia đang cần. Việc thu hồi đất đối với mọi trường hợp để sử dụng vào mục đích, chỉ cần cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, đã dẫn đến tình trạng loạn dự án.
- Luật Đất đai 2003 được xem là đã giải quyết nhiều vấn đề của Luật Đất đai 1993, tuy nhiên sau đó lại tiếp tục phải sửa đổi. Ông đánh giá thế nào về văn bản luật này?
Luật Đất đai ban hành vào năm 2003 cũng nảy sinh vấn đề về 5 quyền. Thứ nhất, không công nhận những hợp đồng chuyển nhượng mà không theo hướng dẫn của Chính phủ. Lúc đó, tôi đã lên tiếng rằng: “Luật có nhưng không có nghị định, đấy là lỗi của Chính phủ chứ không phải lỗi của luật, cũng không phải lỗi của nhân dân. Nhân dân không phải chờ bất kỳ văn bản luật pháp nào khi cuộc sống đã đòi hỏi và chúng ta phải thừa nhận tất cả những hợp đồng bất kỳ loại nào mà hai người ký với nhau, bởi vì họ thực hiện đúng luật”.
Sau đó, Luật Đất đai năm 2003 phải công nhận tất cả các hợp đồng của người dân đã chuyển nhượng với nhau là hợp luật. Tôi muốn nhấn mạnh về câu chuyện “tư duy pháp luật”, nhà nước không thể dùng luật để bắt nạt dân, nhà nước chỉ có thể dùng luật để tạo điều kiện tốt hơn cho dân. Ngay cả thời điểm này, rất nhiều người bắt nhân dân chờ luật, bắt nhân dân chờ quy hoạch.
Tôi nói tất cả những cái này là “rất bậy”. Quan niệm như vậy là không đúng, đang thiếu luật nhà nước phải chạy theo cuộc sống để tạo điều kiện có luật làm cho nhân dân thuận lợi chứ không phải bắt nhân dân ngồi đấy chờ. Cuộc sống không chờ bất kì một ai cả!
Tôi cho rằng đây là minh chứng cho việc pháp luật đi vào cuộc sống, pháp luật phù hợp thì cuộc sống sẽ tiếp nhận, người dân sẽ thực hiện. Còn pháp luật “vênh váo” người dân không biết thực hiện như thế nào cả và họ sẽ tìm cách khác để giải quyết vấn đề.
Tôi từng vào Đắk Lắk vào năm 2005, hồi đó Chính phủ có chủ trương bỏ tiền ngân sách mua lại đất ở Tây Nguyên để trao lại cho đồng bào dân tộc, kể cả trường hợp đồng bào dân tộc được giao đất mà đã chuyển nhượng. Đây là chính sách ưu tiên cho đồng bào dân tộc.
Lúc đó, Chính phủ đặt yêu cầu với Bộ Tài nguyên và Môi trường phải nghiên cứu làm sao để ngăn cản việc người dân được giao đất lần thứ hai rồi lại chuyển nhượng tiếp. Chủ trương đưa ra vào năm 2005 nhưng phải đến Nghị định số 84 năm 2007 mới có quy định là người được giao đất lần hai sẽ không được chuyển nhượng trong vòng 10 năm.
Ngay lập tức, tôi đã phê phán Nghị định này, khi đó tôi đã về hưu hồi tháng 3/2007. Tôi nói rằng cấm chuyển nhượng trong vòng 10 năm nếu được giao đất lần thứ hai là bất khả thi, vì họ lại chuyển nhượng giấy tay với nhau. Thủ tục hành chính phức tạp hoặc chi phí quá cao làm cho người dân không thực hiện nữa.
- Song hành với quá trình hoàn thiện pháp lý và chính sách, chúng ta đã chứng kiến dòng chảy về đầu tư, giúp hình thành thị trường bất động sản. Ông đánh giá thế nào về dòng chảy này trong 30 năm qua?
Luật Đất đai năm 1993 chưa kêu gọi đầu tư được nhiều. Kể từ khi bắt đầu có Luật Đất đai 1993 chỉ có một số nhà đầu tư tham gia thị trường, như trường hợp ông Dũng “lò vôi” là người tiên phong trong đầu tư khu công nghiệp Sóng Thần.
Phong trào đưa tiền vào thị trường bất động sản phải kể đến Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998. Ngay sau khi sửa đổi Luật 1998 mới mở ra được các cơ chế sát với thị trường và được các nhà đầu tư hưởng ứng. Phải nói rằng Việt Nam có phong trào đầu tư vào nhà ở nở rộ cũng bắt đầu từ năm 1998.
Ngày ấy, cách thức sơ khai là làm một dự án đầu tư nhà ở rồi xin cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và được duyệt. Hàng ngũ “tay không bắt giặc” lúc ấy cũng cực kỳ nhiều, chỉ cần có mối quan hệ là đi xin đất để làm dự án nên mới có câu chuyện “10% đất ngoại giao trong mỗi dự án”.
Về nguồn vốn phát triển bất động sản, ngày ấy để làm một dự án sẽ không đủ tiền và chính những nhà đầu tư đã nghĩ ra cách bán bất động sản hình thành trong tương lai. Tôi cho rằng đây là “phát minh” cực kỳ hay và có lẽ người Việt Nam mới nghĩ được, tức là dùng ngay tiền của người mua để làm dự án.
Cho đến nay, tổng kết lại các dự án bất động sản cũng là lấy vốn từ bán bất động sản hình thành trong tương lai. Trong thực tế, vốn tín dụng và vốn chủ sở hữu không đáng kể. Vốn tín dụng chỉ đủ 30% để xây dựng hạ tầng, còn lại 70% là vốn bán nhà hình thành trong tương lai.
Tôi vẫn đánh giá cao sự khôn khéo của nhà đầu tư Việt Nam, song nó cũng đưa tới rủi ro khi nhiều người không có đất nhưng đưa ra chiêu trò bán bất động sản hình thành trong tương lai rồi ôm tiền bỏ chạy. Do đó, Luật Đất đai năm 2013 đã bổ sung sung thêm quy định về việc phải có một ngân hàng đứng ra bảo lãnh.
Tôi luôn cho rằng nguồn vốn để phát triển thị trường bất động sản Việt Nam chắc chắn vẫn là hình thức bán bất động sản hình thành trong tương lai, vì Việt Nam làm gì có nhiều vốn! Tôi vẫn khuyên đừng ai trông vào nguồn vốn tín dụng.
Để phát triển thị trường bất động sản có thể khai thác nguồn vốn từ cổ phiếu, trái phiếu nhưng lãi suất phải cao hơn lãi suất tín dụng. Tất cả những cách thức này ở Việt Nam hiện nay đang rất rối. Do đó, nhà nước nên xem xét cho phép các nhà đầu tư bất động sản ở Việt Nam được vay vốn các tổ chức tài chính quốc tế. Chúng ta nên mở cửa cho các tổ chức tín dụng quốc tế tham gia và hình thành một khung pháp luật về nó.
Về nguyên tắc, chúng ta không cho phép thế chấp bằng bất động sản Việt Nam vay tiền của các tổ chức tín dụng tài chính quốc tế. Thế nhưng, tôi nghĩ dù có cấm đến mấy đi nữa thì bản thân người ta sẽ nghĩ cách vượt qua hàng rào. Ví dụ họ có thể sẽ ký một cam kết ngầm với nhau về mặt thế chấp.
- Nhìn lại 30 năm vừa qua, ông đánh giá thế nào về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như dòng vốn của Việt kiều đối với thị trường bất động sản Việt Nam?
Nhà đầu tư nước ngoài vào bất động sản Việt Nam chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chúng ta chưa tìm được các nhà đầu tư nước ngoài tốt. Trong các doanh nghiệp ngoại vào Việt Nam, tôi đánh giá cao nhất Phú Mỹ Hưng, còn Gamuda hay Ciputra vào nhóm trung bình yếu trên thế giới mà đôi khi Việt Nam còn lỗ tiền đất ở đấy nhiều quá! Nhược điểm lớn nhất của Việt Nam hiện nay chính là giá trị đất đai gia tăng nhưng chưa thu được gì. Quan điểm của tôi là đối với FDI, chỉ nên tiếp nhận những dự án nào có tính chất công nghệ hiện đại. Với thị trường bất động sản, tôi cho rằng chúng ta phải lấy được giá trị gia tăng từ đất một cách hợp lý.
Về khu vực tiền trong dân, trong đó có nguồn kiều hối, có thể nói tiền rất nhiều nhưng Việt Nam chưa có giải pháp huy động được vốn từ dân vào sản xuất kinh doanh nhiều mà chủ yếu vẫn tập trung vào bất động sản. Tôi luôn phản đối chuyện xem đất nền như là một hàng hóa bất động sản. Nhiều người dân bây giờ trở nên giàu có cũng chỉ vì nhiều bất động sản. Một nền kinh tế như thế cực kỳ tai hại khi tiền găm vào đất chờ tăng giá để hưởng lợi nhuận.
Việc thiết kế lại Luật Đất đai hiện nay là cần thiết, để thoát khỏi cái bóng của “tư duy bao cấp” vẫn còn tồn đọng trong Luật Đất đai 2013, và đây chính là nguyên nhân dẫn đến các tác động tiêu cực lên thị trường bất động sản và sự phát triển chung của nền kinh tế.
(VNF) - TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho rằng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn đã trở thành “bệ đỡ” quan trọng giúp Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ngay từ đầu năm 2026, đồng thời tạo nền tảng để củng cố các động lực như xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư trong thời gian tới.
(VNF) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng vận hành của hoạt động đầu tư, kinh doanh, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của rủi ro pháp lý và tranh chấp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn phải thiết kế lại tư duy quản trị rủi ro theo hướng chủ động, xuyên suốt toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
Trong cuộc đua nhân sự, nhiều doanh nghiệp TP.HCM đẩy nhanh cấp bậc qua danh xưng để hút ứng viên, nhưng không đi kèm lương, quyền lợi tương xứng, khiến người lao động vỡ kỳ vọng.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho rằng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn đã trở thành “bệ đỡ” quan trọng giúp Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ngay từ đầu năm 2026, đồng thời tạo nền tảng để củng cố các động lực như xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư trong thời gian tới.
(VNF) - Khi cả nước bước vào kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5, trên các công trường dự án cao tốc, hàng nghìn cán bộ, kỹ sư, công nhân vẫn miệt mài bám công trường, khẩn trương thi công để giữ vững tiến độ, góp phần đưa những dự án trọng điểm về đích đúng hẹn.