Đô thị

Kiểm toán Nhà nước chỉ ra hàng loạt sai phạm tại dự án metro Bến Thành - Suối Tiên

(VNF) - Kiểm toán Nhà nước vừa có kết luận chỉ ra hàng loạt sai phạm làm đội vốn hàng nghìn tỷ đồng tại dự án đường sắt đô thị TP. HCM tuyến số 1 (Bến Thành - Suối Tiên).

Kiểm toán Nhà nước chỉ ra hàng loạt sai phạm tại dự án metro Bến Thành - Suối Tiên

Kiểm toán Nhà nước chỉ ra hàng loạt sai phạm tại dự án metro Bến Thành - Suối Tiên.

Dự án Đường sắt đô thị TP. HCM tuyến số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) được phê duyệt lần đầu vào năm 2007 với tổng mức đầu tư (TMĐT) hơn 126 tỷ yên (tương đương 17.388 tỷ đồng). Đến năm 2012, TMĐT của dự án là hơn 236 tỷ yên (tương đương 47.325 tỷ đồng). 

Liên quan tới việc phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư (TMĐT) của dự án metro Bến Thành - Suối Tiên tại Quyết định số 4480/QĐ-UBND ngày 21/9/2011, mới đây, Kiểm toán Nhà nước đã chỉ ra nhiều sai phạm của UBND TP. HCM khi điều chỉnh dự án chưa tuân thủ trình tự thủ tục và chưa đúng thẩm quyền.

Cụ thể, dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư (TMĐT) là 47.325 tỷ đồng, với mức vốn trên đã trở thành dự án trọng điểm quốc gia (lớn hơn 35.000 tỷ đồng). Theo quy định tại Nghị quyết 49/2010, dự án phải trình Quốc hội xem xét. Và theo quy định, thẩm quyền quyết định các dự án quan trọng quốc gia là Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, UBND TP. HCM điều chỉnh dự án chưa đúng thẩm quyền.

Kiểm toán Nhà nước cũng chỉ ra rằng, TMĐT được lập theo phương pháp xác định thiết kế cơ sở (TKCS) nhưng hồ sơ TKCS không thể hiện đầy đủ, nhiều hạng mục công trình còn thiếu và nhiều đơn giá, định mức áp dụng thiếu cơ sở nên giá trị TMĐT được lập có khoảng 60% giá trị chưa đảm bảo cơ sở để xác định giá trị tính toán.

Cụ thể, về khối lượng: ngoại trừ khối lượng bê tông, thiết bị… các khối lượng còn lại không đủ có các bản vẽ cần thiết để xác định khối lượng. Về đơn giá, ngoại trừ một số vật tư có trong thông báo giá, các thiết bị, vật tư nhập từ Nhật Bản đều chưa đảm bảo căn cứ pháp lý.

Về định mức, áp dụng nhiều định mức của Nhật Bản chưa có trong hệ thống định mức hiện hành, áp dụng nhiều hệ số chi phí khác của Nhật Bản không có trong quy định tại Việt Nam hoặc có trong quy định Việt Nam nhưng lại cao hơn nhiều.

Một số giá thiết bị nhập khẩu tính toán trong dự án cao hơn nhiều so với giá dự thầu của 3 nhà đầu tư, chẳng hạn như: giá toa tầu tính trong dự toán cao gấp 1,5 lần; giá các trạm điện cao hơn trung bình 3,5 lần, giá hệ thống thu phí cao hơn trung bình 2,8 lần.

Kiểm toán Nhà nước cho rằng: “Trường hợp sử dụng các khối lượng và đơn giá như trong hồ sơ tư vấn lập, TMĐT điều chỉnh còn tồn tại về tính toán khối lượng, dự phòng khối lượng, dự phòng trượt giá, lãi vay đã làm tăng TMĐT bất hợp lý (giá trị 9,6 tỷ đồng), trong đó, gói thầu số 1 là 2,7 tỷ đồng, gói thầu 2 là 3,4 tỷ đồng, gói thầu 3 là 3,4 tỷ đồng”.

Báo cáo cũng nhấn mạnh việc phê duyệt điều chỉnh dự án với TMĐT là 236.626 triệu yên là sai giá trị TMĐT được lập. Cụ thể, giá trị phê duyệt 236.626 triệu yên chỉ là giá trị tương đương tại thời điểm lập tháng 10/2009. Trong trường hợp giá trị phê duyệt 100% bằng tiền yên thì tất cả trượt giá phải tính theo tiền yên với giá trị trượt giá 2,4% năm và giá trị TMĐT chỉ là 206.126 triệu yên (giảm 30.500 triệu yên so với giá trị TMĐT tuyệt đối).

Vì sao tăng vốn tại dự án metro Bến Thành - Suối Tiên?

Văn bản báo cáo của Kiểm toán Nhà nước cũng chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn tới TMĐT bị tăng thêm.

Một là sự biến động giá khách quan của nguyên vật liệu và tăng lương tối thiểu từ năm 2006 đến năm 2009 đã làm tăng TMĐT lên 40% (báo cáo của Chính phủ tại tờ trình số 862/TTr-BQLĐSĐT).

Hai là tăng khối lượng xây dựng do tăng lưu lượng hành khách và tăng khối lượng thực tế trong quá trình làm rõ TKCS làm tăng TMĐT lên 43%. 

Ba là do thay đổi các điều kiện tính toán TMĐT, bao gồm do thay đổi chi phí dự phòng, thay đổi tỷ giá, thuế VAT và chi phí gián tiếp; đáng chú ý là thay đổi chi phí dự phòng và tỷ giá còn chưa chính xác.

Cụ thể, việc thay đổi tỷ lệ dự phòng khối lượng, trượt giá là cơ bản phù hợp với chế độ chính sách, tuy nhiên tính toán 15% dự phòng cơ học cho tất cả các gói thầu là chưa phù hợp với quy định tại Quyết định số 48/2008/QĐ-TTg.

Tiếp đến là chi phí tăng do thay đổi tỷ giá (theo báo cáo của chủ đầu tư) chưa phù hợp. Việc thay đổi tỷ giá từ 1 yên = 137 đồng năm 2006 và đến năm 2009 thì giá trị 1 yên = 200 đồng, không những không làm tăng mà còn làm giảm TMĐT do tổng mức đầu tư được xác định bằng tiền yên và 50% phần hàng hoá là của Việt Nam, do đó việc đồng yên tăng giá làm giảm chi phí tính bằng tiền yên.

Xem thêm: Hà Nội nói gì về việc đưa nhà máy sản xuất iPhone tới Việt Nam?

Tin mới lên