(VNF) - Xuất phát điểm là phát minh dùng để trao đổi buôn bán, đến nay, tiền tệ đã được ứng dụng công nghệ số để thực hiện thêm nhiều mục đích khác.
Ảnh minh hoạ
Ngân hàng
Lịch sử phát triển của của tiền tệ và hoạt động ngân hàng gắn liền với lịch sử sản xuất hàng hóa. Khởi đầu, việc kinh doanh tiền tệ diễn ra do dân chúng tin tưởng để ký gửi tài sản và tiền bạc. Về sau, nó càng được đẩy mạnh hoạt động với những nghiệp vụ kinh doanh, như đổi tiền, nhận tiền gửi, bảo quản, cho vay và vận chuyển tiền.
Tiền tệ có tự cổ xưa cho đến tận bây giờ. Nên các hình thái biểu hiện của nó từ bây giờ ngược đến tận ngày xưa rất phong phú và đa dạng. Thời tiền sử, người ta đã từng biết đến việc các thổ dân ở các bờ biển vùng châu Á, châu Phi dùng vỏ sò, vỏ ốc để làm tiền. Ở một số nơi khác lại ưa dùng răng thú (một số quần đảo ở Thái Bình Dương), lông chim (đảo Polyneise), gạo (Philipines), lưỡi dao, vải lụa (Trung Quốc) để làm tiền.
Đầu tiên, dạng tiền tệ được mọi người chấp nhận thường là những hiện vật quen thuộc và hữu ích, được coi trọng. Chẳng hạn, người dân vùng Bắc nước Anh thời cổ đại thường dùng con lừa là vật trung gian trao đổi hàng hóa. Kim loại quý được ưa dùng làm tiền trong một thời gian dài và đến tận bây giờ vẫn được nhiều nơi áp dụng vì tính chất “được đảm bảo bằng vàng” của nó.
Từ buổi bình minh của lịch sử, khi phát minh ra tiền tệ và sử dụng chúng trong thực tiễn, loài người đã nhận ra vai trò và chức năng to lớn của nó trong đời sống xã hội, từ việc coi tiền là vật ngang giá chung để làm thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện dự trữ đến phương tiện thanh toán... Tiền tệ đã phát huy tác dụng to lớn đối với nền văn minh nhân loại, thông qua việc tạo ra những điều kiện thuận lợi cho thương mại phát triển, thúc đẩy nền sản xuất vật chất và tinh thần vươn tới những đỉnh cao mới.
Sự phát triển của tiền tệ đã hình thành nên các ngân hàng thương mại. Và các ngân hàng thương mại phát triển đỉnh cao, đến lượt mình, đã làm xuất hiện ngân hàng trung ương (central bank), để đến nay, ngân hàng trung ương được coi là một trong ba phát minh vĩ đại nhất của loài người, sau lửa và bánh xe.
Lịch sử tồn tại và phát triển của tiền tệ và ngân hàng, cùng với sự tiến bộ của nền văn minh tin học, đang gây ra những biến đổi dữ dội chưa từng thấy. Từ đồng tiền hiện vật qua đồng tiền chất dẻo sang đồng tiền điện tử (electronic money) cho đến những đồng tiền ảo - virtual money - và đến nay được gọi chung là đồng tiền mã hoá (cryptocurrency)... là một bước phát triển dài, vĩ đại trong lịch sử tiền tệ. “Tiền tệ vốn có thể sờ mó, nhìn thấy, bây giờ đã thay đổi thành giấy ghi chép mang tính tượng trưng, cuối cùng biến đổi ra những phù hiệu chớp sáng trên màn ảnh vi tính” (Alvin Toffler: Thăng trầm quyền lực).
Điều đáng kinh ngạc là đồng tiền điện tử lại mang lại một siêu quyền lực to lớn chưa từng thấy trong hoạt động kinh tế của loài người. Trong kỉ nguyên số hoá mà ta đang sống, tiền tệ của nền văn minh tin học là dựa trên cơ sở của thông tin và tri thức.
Bitcoin và đồng tiền mã hóa
Các nhà khảo cổ học khám phá ra rằng, một số bản viết tay cổ xưa nhất có nội dung nói về các giao dịch giá trị, được khắc vào đá hoặc các tấm đất sét và được chính phủ cầm quyền lưu trữ. Các giao dịch này không thể bị thay đổi một khi được lưu lại và mỗi khối bao gồm các giao dịch mới sẽ được thêm vào sau nhóm các khối hiện có.
Như vậy, Bitcoin hay đồng tiền mã hóa, với các nguyên tắc về cách thức hoạt động, rất giống với những gì mà văn tự cổ xưa ghi chép lại về các giao dịch. Mật mã học cũng là một nền tảng khác của Bitcoin: Các đoạn tin nhắn được mã hóa theo mật mã mà mỗi kí tự được thay thế bằng một kí tự cách nó một số các kí tự cụ thể. Như vậy, các nguyên tắc căn bản làm nền tảng cho Bitcoin vẫn được giữ nguyên. Dữ liệu giao dịch trên các khối là không thể thay đổi, đã được mã hóa bằng cách ứng dụng mật mã học, vì thế chỉ có những người có quyền truy cập thì mới giải mã được.
Satoshi Nakamoto được coi là người sáng tạo ra Bitcoin. Người ta cho rằng, Nakamoto chỉ là một bút danh của một người hoặc một nhóm người, mà người này chưa bao giờ công khai thân phận của mình cho công chúng biết. Năm 2008, S.Nakamoto viết một bài báo trên internet có tiêu đề: “Bitcoin: Hệ thống tiền ảo ngang cấp” (Bitcoin: A peer - to - peer Electronic Cash System).
Bài báo đã tích hợp nhiều yếu tố của các nghiên cứu trước đây về tiền kĩ thuật số, các loại tiền tệ theo mô hình phi tập trung, các khoản thanh toán không thể theo dõi, bằng chứng xử lí và mật mã… để tạo thành một giải pháp khả thi về việc ra đời một đồng tiền mã hóa (kĩ thuật số). Block Chain đầu tiên tạo ra trong mã Bitcoin, được viết trong mã bằng hai từ riêng biệt là chuỗi (chain) và khối (block).
Nakamoto khai thác khối đầu tiên (khối nguyên thủy) có chứa thông điệp trên một tờ báo ở Anh: “Tờ Times, ngày 3/1/2009, Đại Pháp Quan đứng bên bờ vực phải viện trợ ngân hàng lần thứ hai” với hàm ý: Blockchain Bitcoin được khai thác vào ngày 3 tháng 1 hoặc sau đó. Đây được coi là tuyên bố về những thất bại của tiền tệ và thị trường tài chính hiện hành.
Tiếp theo đồng Bitcoin, hàng loạt các đồng tiền mã hóa nữa cũng lần lượt và liên tiếp xuất hiện. Tính đến nay, có đến khoảng hơn 26.000 đồng coin với các layer và cấp độ khác nhau, tạo nên một thị trường các loại đồng tiền kĩ thuật số đa dạng và hấp dẫn, được áp dụng giao dịch trong các lĩnh vực khác nhau, thực hiện các chức năng của tiền tệ trong đời sống xã hội, từ cất trữ tài sản đến thanh toán.
Như đã nêu trên, đồng tiền hiện đại của các nước trên thế giới, ngoài tiền hiện vật ra, nó chỉ là những con số điện tử trên máy tính của các ngân hàng, chính phủ và các tổ chức tài chính có chức năng cất trữ những hồ sơ chi tiết về nơi mà mỗi con số điện tử hoặc mỗi đơn vị tiền tệ được lưu giữ. Các đồng tiền mã hóa, trái lại không có một chính phủ hay ngân hàng trung ương nào theo dõi, giám sát các hồ sơ giao dịch.
Cấu trúc phi tập trung của nó đồng nghĩa với việc tất cả mọi người trên mạng lưới đều tham gia xác nhận rằng những hồ sơ và giao dịch là hoàn toàn chính xác. Chính vì vậy, ngay từ khi ra đời, Bitcoin và tiếp theo là các đồng tiền mã hóa đã tạo nên sự hấp dẫn vì lợi ích và tác dụng to lớn của nó với người dùng.
Trước hết, đồng tiền mã hóa loại bỏ các tổ chức trung gian trong giao dịch (như hệ thống ngân hàng hay các tổ chức tài chính). Sau nữa, nó thể hiện tính chất phi tập trung trong tổ chức và hoạt động, không chịu sự kiểm tra hay giám sát của bất kì chính phủ nào (không có bất kì một chính phủ hay cơ quan thanh tra giám sát nào chi phối hoạt động của nó). Về hiệu quả, nó có chi phí thấp (không có những khoản thanh toán quốc tế đắt đỏ như phí giao dịch của ngân hàng). Về thời gian, nó có tốc độ giao dịch rất nhanh (giao dịch gần như được thực hiện ngay lập tức).
Hơn nữa, tính minh bạch là một ưu thế hiển nhiên của đồng tiền mã hóa (giao dịch được thực hiện trên cùng một sổ cái chung, công khai và phi tập trung). Mặt khác, nó tạo lòng tin cho người dùng (các giao dịch không thể bị thay đổi hoặc bị hủy bỏ). Ngoài ra, tính bảo mật vốn là yêu cầu hàng đầu của một giao dịch được tuân thủ cao (mật mã hóa được sử dụng để bảo vệ tối đa thông tin về danh tính và các giao dịch của người sử dụng)….
Tuy nhiên, đồng tiền mã hóa cũng có những rủi ro và bất lợi, cần được khắc phục để hoàn thiện. Tính không thể đảo chiều giao dịch có thể có lúc gây ra khó khăn cho người sử dụng. Việc thiếu khả năng mở rộng mạng lưới (so với các gã khổng lồ trong thanh toán như Visa hay MasterCard) cũng ảnh hưởng không nhỏ đến số lượng các giao dịch. Có một nghịch lí là tính bảo mật của đồng tiền mã hóa cao hơn lại cũng có thể dẫn đến độ an toàn thấp hơn (trường hợp người dùng bị quên hay mất mã khóa cá nhân)…
Ứng xử của ngân hàng và chính phủ các nước
Hiện có ba ngành kinh tế đang bị tiền mã hóa khuấy đảo (tài chính và ngân hàng, điện toán đám mây crypto và crypto trong trò chơi điện tử). Trong lĩnh vực tài chính nói chung, công nghệ Bitcoin không chỉ được ứng dụng rộng rãi trong chuyển giao tiền tệ, buôn bán cổ phiếu, thanh toán, mà còn nhiều thỏa thuận và hoạt động khác thuộc phạm vi nghiệp vụ cốt lõi của các cơ sở sở tài chính.
Những hoạt động nghiên cứu và ứng dụng nó đang được tiến hành tại hàng chục ngân hàng trung ương các nước. Các định chế tài chính quốc tế, như Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, tổ chức Liên hợp quốc… cũng đang tích cực nghiên cứu và ứng dụng nó. Những tổ chức như NASDAQ, VISA, Citibank, Wells Fargo, JP Morgan, Capital One… đang đi đầu trong việc thiết lập sổ cái phân tán cho các giao dịch giữa các tổ chức tài chính.
Hiện nay, 15 trong số 50 ngân hàng đứng đầu thế giới đang làm việc với Ripple (mạng lưới thanh toán) để phát triển nền tảng Blockchain. Đồng thời, nó cũng trở nên phổ biến hơn với các tổ chức ngoài lĩnh vực tài chính như quản lí nhận dạng và nhận diện kĩ thuật số, bầu cử kĩ thuật số, lập hồ sơ y tế về chăm sóc sức khỏe, chứng nhận học thuật, âm nhạc, lưu trữ đám mây, dịch vụ thuê mướn xe hơi, quản lí tài sản, thuê mướn nhà ở, công nghiệp du lịch…
Trong khi đó, ý kiến của chính phủ các nước về sự phát triển và lớn mạnh của đồng coin ổn định rất đa dạng. Một số chính phủ khăng khăng cho rằng, nó chẳng qua chỉ là một trò lừa đảo tầm cỡ quốc tế hạng nặng, trong khi một số chính phủ khác, mà đứng đầu là Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, tiếp theo là các nước như Anh, Estonia, Thụy Sỹ, Đan mạch, Nauy, Georgia, Mexico, Singapore, Luxembourg… lại đang tìm cách đưa chúng vào nền kinh tế chung của quốc gia, xem coin ổn định như một loại tiền số hợp pháp sẽ đóng vai trò quan trọng trong tương lai của tài chính toàn cầu. Với một số nhà lập pháp Hoa Kỳ, việc khởi thảo những ý tưởng mới cho công nghệ lập pháp (Reg-Tech) đang phát triển một cách nhanh chóng…
Tương lai của đồng tiền mã hóa
Mặc dù Bitcoin và đồng tiền mã hóa hiện tại chưa phải là phương thức thanh toán phổ biến, nhưng nó đã cho thế giới thấy rằng, tiền tệ có thể tồn tại ngoài sự kiểm soát của chính phủ và ngân hàng, thể hiện vai trò và ảnh hưởng to lớn tiềm tàng của nó. Việc các đồng tiền mã hóa có thể tạo ra các giao dịch trong vòng vài phút đã cho phép mọi người khắp nơi trên thế giới sẽ trở thành một bộ phận đông đảo trong hệ thống tài chính toàn cầu.
Cùng với Bitcoin, hàng ngàn các đồng tiền mã hóa khác - được gọi là Altcoin - là các loại tiền mã hóa thay thế đang được xây dựng dựa trên mã nguồn Bitcoin, sở hữu loại tiền tệ riêng, hoạt động độc lập với Bitcoin, đang làm cho chúng ngày càng được thừa nhận rộng rãi như là một đồng tiền quốc tế, nhất là ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Có vẻ như đây là điểm khởi tranh giữa một thực thể hữu hình (ngân hàng) với một thực thể tưởng chừng như là vô hình (đồng tiền mã hóa).
Bản thân các đồng tiền mã hóa cũng đang đua tranh mạnh mẽ về công nghệ và tiện ích để khẳng định vị thế vượt trội của mình trên thị trường tiền tệ mã hóa. Tiếp theo đồng Bitcoin là các đồng ETH, XRP, BNB, MKR, LINK, DOGE… Coinbase được coi là bàn tay vàng trong thế giới tiền mã hóa vì nó khiến người ta nhận ra rằng, tiền mã hóa không chỉ là một phương tiện trao đổi mà nó còn có giá trị đầu tư thực sự. Coinbase là sàn giao dịch tiền mã hóa lớn nhất và đáng tin cậy nhất.
Việc thành lập Coinbase đã là một sự kiện mang tính cột mốc đột phá trong lịch sử ngành tiền mã hóa vì nó là nhà trung gian đầu tiên mà công chúng có thể tiếp cận được. Hiện nay nó cung cấp hơn 21 sản phẩm và vận hành trên 100 quốc gia khác nhau. Có tới hơn 68 triệu người dùng đã xác minh hoạt động trên sàn này, một con số khá lớn so với Wells Fago có 70 triệu khách hàng và với Bank of America có 66 triệu khách hàng.
Tương lai của các đồng tiền mã hóa nói chung vẫn còn là câu chuyện của thời gian. Việc nó có được đông đảo công chúng đón nhận và tin dùng hay không sẽ phụ thuộc vào thái độ của các doanh nghiệp và người tiêu dùng đối với nó.
(VNF) - Nghị quyết 79-NQ/TW được xem là bước ngoặt trong tư duy phát triển khi lần đầu tiên đặt lại cách nhìn về vai trò kinh tế nhà nước, chuyển trọng tâm từ quy mô nguồn lực sang năng lực dẫn dắt và tạo lập giá trị. Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, cách tiếp cận này không chỉ thay đổi kỳ vọng đối với doanh nghiệp nhà nước, mà còn mở ra dư địa mới để nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
(VNF) - Theo ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, dù chịu tác động từ xung đột địa chính trị, chi phí đầu vào tăng và rủi ro thương mại toàn cầu, kinh tế Việt Nam năm 2026 vẫn được dự báo tăng trưởng khoảng 7,2%. Tuy nhiên, để giữ vững đà này, Việt Nam cần linh hoạt điều hành vàvà kiên định với cải cách dài hạn.
(VNF) - TS Võ Trí Thành cho rằng trong nền kinh tế số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực có giá trị như một “mỏ vàng”, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, việc quản trị, phân bổ và kiểm soát dữ liệu lại đặt ra những thách thức phức tạp, từ quyền sở hữu, quyền riêng tư đến cân bằng giữa tự do hóa và an ninh, khiến đây trở thành một trong những bài toán khó nhất hiện nay.
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
(VNF) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng vận hành của hoạt động đầu tư, kinh doanh, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của rủi ro pháp lý và tranh chấp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn phải thiết kế lại tư duy quản trị rủi ro theo hướng chủ động, xuyên suốt toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
Trong cuộc đua nhân sự, nhiều doanh nghiệp TP.HCM đẩy nhanh cấp bậc qua danh xưng để hút ứng viên, nhưng không đi kèm lương, quyền lợi tương xứng, khiến người lao động vỡ kỳ vọng.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Nghị quyết 79-NQ/TW được xem là bước ngoặt trong tư duy phát triển khi lần đầu tiên đặt lại cách nhìn về vai trò kinh tế nhà nước, chuyển trọng tâm từ quy mô nguồn lực sang năng lực dẫn dắt và tạo lập giá trị. Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, cách tiếp cận này không chỉ thay đổi kỳ vọng đối với doanh nghiệp nhà nước, mà còn mở ra dư địa mới để nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.