(VNF) - Tiền tệ và tài khóa, đầu tư công, xuất khẩu và cơ chế kinh tế mở là 4 đòn bẩy giúp Việt Nam tăng trưởng tích cực, theo GS Nguyễn Đức Khương.
GS Nguyễn Đức Khương, Giám đốc Nguồn lực và Nghiên cứu tại Trường IPAG Business School (Paris), Chủ tịch AVSE Global (Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu).
Nửa năm 2022 đã đi qua, nền kinh tế Việt Nam đã dần phục hồi với nhiều tín hiệu tích cực khi số doanh nghiệp mới thành lập và quay lại thị trường nhanh, GDP tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, việc thực hiện, tiến độ xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản để thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội còn chậm, việc triển khai các dự án trong gói phục hồi kinh tế rất chậm. Trong bối cảnh đó, tình hình kinh tế thế giới vẫn có những tác động khó lường. Điều này, ít nhiều làm ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam.
Vậy, kinh tế Việt Nam 2022 có đạt được mục tiêu tăng trưởng như đã đề ra? Đâu sẽ là những thách thức ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Xung quanh vấn đề này, Tạp chí Đầu tư Tài chính có cuộc trao đổi với GS Nguyễn Đức Khương, Giám đốc Nguồn lực và Nghiên cứu tại Trường IPAG Business School (Paris), Chủ tịch AVSE Global (Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu).
- Theo ông, những yếu tố nào sẽ hỗ trợ tích cực cho quá trình phục hồi và tăng trưởng kinh tế của nước ta trong thời gian còn lại của năm 2022?
GS Nguyễn Đức Khương: Ngay từ đầu năm 2022, các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới đã có những đánh giá tích cực về khả năng phục hồi của kinh tế Việt Nam. Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới tháng 1/2022 của IMF dự báo tốc độ tăng trưởng 5,6% cho nhóm ASEAN-4 (Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam), chỉ đứng sau Ấn Độ và Tây Ban Nha. Nước ta đã khẳng định sự chắc chắn khi đi vào quỹ đạo của sự phục hồi với tốc độ tăng trưởng GDP ước tính quý I (5%) và quý II (7,7%) ở mức rất cao trên mặt chung quốc tế. Kết quả này đến từ nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt phải kể đến sự ổn định kinh tế vĩ mô, hoàn thành tiêm chủng Covid-19 với tốc độ thần kỳ, nhanh chóng mở cửa thị trường trong và ngoài nước khi bệnh dịch được kiểm soát cơ bản.
Chính sách nhất quán trong hợp tác quốc tế trên cơ sở tự chủ, hoà bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi đã xây dựng được hình ảnh một Việt Nam có trách nhiệm quốc tế, một đối tác chiến lược đáng tin cậy.
Khi cạnh tranh địa chính trị phức tạp như hiện nay, một quốc gia sẽ có lợi thế lớn nếu tạo được lòng tin chiến lược với các đối tác. Hơn 14 tỷ USD đầu tư nước ngoài vào nước ta trong nửa đầu 2022 là một minh chứng cho điều này. Đà phục hồi và phát triển sẽ tiếp tục tốt nếu chúng ta tiếp tục đảm bảo được các yếu tố thành công nói trên.
- Ông có thể nói cụ thể hơn về những đòn bẩy tích cực cho tăng trưởng?
Quan sát các biến đổi của nền kinh tế ở thời điểm hiện tại, tôi thấy có 4 đòn bẩy khác có thể thực hiện.
Thứ nhất là đòn bẩy chính sách tiền tệ và tài khoá. So với rất nhiều nước đã phải dùng nhiều biện pháp bất kể chi phí để cứu trợ xã hội, giải cứu kinh tế nhằm ứng phó với dịch bệnh và giờ đã hết dư địa thì Việt Nam vẫn còn không gian và sự chủ động chính sách. Do lạm phát vẫn được kiểm soát ở dưới 4% nên ở giai đoạn phục hồi, Chính phủ có thể tăng dòng tín dụng đến các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu chủ đạo của nền kinh tế. Những hỗ trợ về thuế nên hướng đến khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D), hỗ trợ chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh, kỹ năng quản lý.
Tiếp đến là triển khai giải ngân các gói đầu tư công, trong đó đặc biệt là rà soát, giải quyết những vướng mắc cho các chương trình tồn đọng; ưu tiên hướng đến các hạ tầng giao thông trọng điểm, hạ tầng logistics và hạ tầng số hoá; quá trình thực hiện rất cần chú ý đến điều kiện cho liên kết vùng miền, liên kết chuỗi giá trị.
Tiếp theo là đòn bẩy xuất khẩu. Khi đã đảm bảo được an ninh lương thực quốc gia thì Chính phủ có thể tăng xuất khẩu các mặt hàng nông phẩm, thuỷ hải sản và nguyên vật liệu. Sự kéo dài của chiến tranh Nga – Ukraine đang đưa thế giới vào giai đoạn khó khăn về lương thực, thực phẩm.
Cuối cùng, cơ chế kinh tế mở và năng động cho phép Việt Nam khôi phục khu vực dịch vụ rất nhanh. Đơn cử các dịch vụ ăn uống, du lịch nội địa của Việt Nam đã tăng mạnh. Nếu có thể tìm thấy cơ chế nhuần nhuyễn khai thác thị trường du lịch thế giới sẽ tạo được đột phá. Ví dụ, hiện tại giá xăng dầu đang ở mức rất cao, các chuyến bay quốc tế đến của Việt Nam chỉ ở mức cầm chừng. Nếu các hãng hàng không quốc tế cùng các công ty du lịch nghiên cứu phương án chia sẻ chi phí, hài hoà lợi ích thì có thể làm bùng nổ khách quốc tế tại Việt Nam. Chính sách hỗ trợ đặc biệt của Chính phủ cho mảng dịch vụ quốc tế này cũng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ phục hồi.
- Ông đã nói về những lợi thế, tích cực, vậy còn rủi ro, trở ngại?
Khi cơ hội và thách thức đan xen thì lựa chọn tác chiến hữu hiệu trong mọi trường hợp vẫn là tối ưu hoá các lợi thể và tìm cách giảm thiểu rủi ro. Trở ngại, rủi ro lớn nhất từ nay đến cuối năm là môi trường kinh doanh quốc tế phức tạp và biến động không ngừng, gắn chặt với những thay đổi từ các yếu tố địa chính trị, các căng thẳng đối đầu cục bộ ở nhiều khu vực, tình hình kinh tế toàn cầu. Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu và chi phí sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam. Giá năng lượng nói chung và xăng dầu nói riêng còn tiếp tục xu hướng tăng, đưa đến nguy cơ đẩy chi phí sản xuất và mặt bằng giá cả lên cao.
Hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc và Mỹ đều tiềm ẩn những rủi ro. Xu hướng tiếp tục kiểm soát chặt Covid-19 của Trung Quốc, làn sóng tăng lây nhiễm mới ở nhiều quốc gia khác, có thể làm cho xuất khẩu vào nước này có thể bị hạn chế bất cứ lúc nào. Năng lực sản xuất và quy mô xuất khẩu của nước ta cũng có thể bị hạn chế khi bị phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập từ Trung Quốc.
Trong khi đó, Mỹ đối diện với rất nhiều khó khăn, lạm phát cao, thất nghiệp gia tăng và nguy cơ suy thoái cận kề khi Cục Dự trữ Liên bang (FED) buộc phải nâng lãi suất cơ bản cao với mức tăng cao nhất kể từ 1994 để ứng phó với lạm phát. Nhiều chính sách quan trọng cũng đang được Mỹ xem xét lại để kích hoạt “bộ ổn định tự động” (hỗ trợ thất nghiệp, giảm thuế, chi tiêu công), trong đó có cán cân thương mại với các nước. Thêm vào đó là nguy cơ suy giảm nhu cầu từ thị trường EU do tác động của chiến tranh Nga – Ukraine (lạm phát cao, suy thoái, thiếu hụt năng lượng).
- Ở trên ông đã nói đến nhiều rủi ro bên ngoài, còn nội tại nền kinh tế nước ta thì sao?
Đánh giá khách quan, ở thời điểm hiện tại, Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển. Vị trí địa chính trị, uy tín quốc tế đang cho phép chúng ta tận dụng được nhiều cơ hội từ các đối tác chiến lược. Tôi đang nói đến khả năng làm việc, hợp tác thương mại với các cực phát triển lớn như Trung Quốc, Mỹ, và châu Âu. Hiện nay rất ít quốc gia có được lợi thế này. Chỉ riêng việc tiếp tục thúc đẩy hiệu quả mảng dịch vụ và xuất khẩu cũng có thể tiếp tục tạo ra tăng trưởng cao.
Tuy nhiên, tiếp tục như vậy thì chưa đủ để có tăng trưởng cao trong dài hạn, bền vững và có vị thế vững chắc trên bản đồ kinh tế thế giới. Ở giai đoạn phát triển của Việt Nam, điều chúng ta cần là phát triển đột phá. Để đột phá thì cần nhất là tinh thần quyết tâm, vượt lên chính mình, khát vọng tự làm chủ được kiến thức và những công nghệ mới. Tiếp đến là đầu tư vào những nền tảng cho tương lai như hạ tầng kết cấu, khoa học công nghệ và trình độ chuyên môn cho người lao động.
Chúng ta cũng cần có một nội hàm kinh tế mạnh. Đây là thời điểm vàng để có những điều chỉnh quan trọng, định hướng và tái cơ cấu nền kinh tế, từ đó tăng nội lực, sẵn sàng hấp thụ những tác động tích cực từ bên ngoài; tập trung vào những ngành nghề cần hàm lượng tri thức cao, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, đi sâu vào chuỗi giá trị quốc tế, thậm chí dẫn dắt trong một số ngành như kinh tế số, công nghệ số là điều tiên quyết để bứt phá. Trong đổi mới sáng tạo thì nên ưu tiên những đổi mới đưa đến gia tăng hiệu quả vận hành của bộ máy tổ chức, hệ thống thông tin, kết nối và những đổi mới giải quyết các bài toán cụ thể của tăng trưởng, phát triển bền vững (thương mại điện tử, tài chính toàn diện, ngân hàng số, chống biến đổi khí hậu…).
- Xét riêng bối cảnh hiện tại, việc giải ngân đầu tư công chậm đang là một vấn đề cho tăng trưởng năm nay, ông có bình luận gì về điều này?
Cơ cấu đầu tư đã nói rõ ưu tiên chiến lược cho tăng cường hạ tầng cơ sở. Đây là lựa chọn đúng vì hạ tầng là mạch máu kinh tế, là điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ dòng chảy thương mại trong nước và kết nối giao thương quốc tế.
Dưới góc độ kinh tế thì giải ngân chậm trực tiếp làm giảm hiệu quả của nguồn vốn. Tiến độ triển khai các dự án cơ sở hạ tầng chậm đưa đến nguy cơ đội vốn và chi phí lên cao do giá thành các nhân tố sản xuất tăng theo thời gian. Đó là chưa kể đến khan hiếm nguồn lực, suy giảm động lực tăng trưởng trước mắt và lâu dài.
Khi chậm thì cần tìm rõ nguyên nhân chậm và tháo gỡ. Việc tháo gỡ cần sự hợp tác, năng lực hành động của các chủ thể liên quan. Nếu là vấn đề cơ chế thể chế hay các thủ tục và quy trình phức tạp thì cần những thay đổi mở rộng không gian, quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của người phụ trách, cũng như thời gian thực hiện các công việc. Nếu là sự trì trệ, thiếu năng lực hành động của những người được giao nhiệm vụ, cần thay thế bằng các nhân sự mới đáp ứng được yêu cầu công việc. Một nút thắt có thể làm chậm cả một quá trình.
- Được biết, ông đang sinh sống và làm việc tại Pháp. Kinh nghiệm của nước Pháp có mang đến cho ông gợi ý gì đối với quá trình phục hồi kinh tế của Việt Nam?
Nước Pháp cũng có rất nhiều khó khăn, nhiều động lực tăng trưởng cũng đã tới hạn, chưa kể đến những ràng buộc khi theo đuổi chính sách đoàn kết trong khối liên minh châu Âu. Do đã ở mức phát triển ổn định, bất cứ cải cách đột phá nào cũng khó diễn ra nhanh. Họ cũng đang tiếp tục thúc đẩy phục hồi, cải cách và tìm các động lực phát triển mới.
Bài học sâu sắc mà tôi tâm đắc nhất là quá trình phục hồi luôn đặt trên những nguyên tắc cơ bản, cần tuân thủ, trong những lĩnh vực tác động lên nhiều người dân. Ví dụ lĩnh vực y tế dường như được đưa riêng ra khỏi các lợi ích kinh tế, rất minh bạch, với vai trò rõ ràng của nhà nước và các thành phần kinh tế khác nhau. Những hiện tượng giá cả phi mã, lợi dụng dịch bệnh để tăng giá cả của thuốc, hay thiết bị y tế…rất khó xảy ra.
Hay đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều năng lượng, chính phủ đưa ra những hỗ trợ cho các doanh nghiệp bị suy giảm lợi nhuận biên (30% so với năm trước đó), các doanh nghiệp có lợi nhuận biên âm và các doanh nghiệp nằm trong lĩnh vực trực tiếp phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế cao chịu suy giảm lợi nhuận biên. Ngay từ đầu năm, chính phủ Pháp cũng đã ban hành một chỉ thị giới hạn tăng giá khí đốt và giá điện ở mức 4%.
Bài học tiếp theo là “đầu tư cho tương lai” mỗi khi phải đối mặt với khủng khoảng. Chính phủ cam kết hỗ trợ mạnh mẽ cho đổi mới sáng tạo, công nghệ mới, giáo dục – đào tạo, nghiên cứu phát triển (R&D), tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng số lượng start-up, cũng như số kỳ lân công nghệ trong những năm tới.
- Ông dự báo thế nào về tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm nay?
Dự báo tốc độ tăng trưởng hàng năm phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố đầu vào. Môi trường kinh tế luôn thay đổi. Ngay cả Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế cũng phải cập nhật, tính toán lại các dự báo 3 tháng 1 lần. Song tôi luôn lạc quan về sự phát triển của Việt Nam, nơi mà tôi thấy sự năng động, cởi mở, tinh thần vươn lên và còn rất nhiều dư địa phát triển. Với những điều kiện hiện tại, tăng trưởng trong khoảng 6%, đến 7,5% là khả thi, chưa phải đánh đổi nhiều mà vẫn tiếp tục tốt được các chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Sự nỗ lực phải đến từ mọi phía.
- Ông có khuyến nghị gì cho Chính phủ để kinh tế Việt Nam phục hồi nhanh và bền vững?
Đó là sự phối hợp nhịp nhàng giữa kích hoạt các động lực tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn. Có những đầu tư sẽ không tạo sự phát triển ngay, nhanh, nhưng không thể thiếu để tạo ra đột phát về trung và dài hạn, như đầu tư cho tri thức, đầu tư cho giáo dục – đào tạo, đầu tư cho nghiên cứu phát triển, sáng tạo và làm chủ công nghệ. Tôi muốn nhấn mạnh là chỉ tăng trưởng thôi thì chưa đủ để thu hẹp khoảng cách phát triển với những quốc gia đi đầu mà phải hướng đến những bứt phá. Chỉ có tích tụ tri thức bậc cao, tích tụ vốn con người mới có thể đưa Việt Nam ra biển lớn. Bên cạnh đó, mọi chính sách, quá trình phát triển cần phải xoay quanh hạnh phúc, và chất lượng cuộc sống của người dân, trong đó y tế, giáo dục, an ninh và môi trường là những ưu tiên hàng đầu.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - Năm năm trước, khi Phú Quốc rục rịch trở thành Thành phố đảo đầu tiên trong cả nước, nơi đây đã là một đại công trường với hàng trăm dự án BĐS nghỉ dưỡng được ồ ạt đầu tư. Thì nay, để chuẩn bị cho Hội nghị APEC 2027, Phú Quốc hiện là một… siêu đại công trường với nhiều dự án hạ tầng giao thông, khu trung tâm sự kiện…