Đề xuất xây dựng Nghị định sản xuất tại Việt Nam: 'Bộ Công Thương đã biết sửa sai'
Ái Châu Tử -
03/10/2020 10:08 (GMT+7)
(VNF) - Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng việc đề xuất dự thảo Nghị định 'Sản xuất tại Việt Nam' cho thấy Bộ Công Thương đã biết sửa sai cách tiếp cận vấn đề và quy định hiện hành.
Xung quanh đề xuất Nghị định "sản xuất tại Việt Nam", VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với luật sư Trương Thanh Đức, Chủ tịch Công ty Luật BASICO:
- Ông từng phê bình Bộ Công Thương tư duy sai khi dự thảo "Thông tư quy định cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam". Vậy ông nhìn nhận như thế nào về việc đề xuất Nghị định 'Sản xuất tại Việt Nam'? Liệu đây có phải là động thái “sửa sai” của Bộ Công Thương?
Luật sư Trương Thanh Đức: Đây đúng là một đề xuất tháo gỡ bế tắc, hay gọi thẳng ra đó là sự sửa sai cách tiếp cận vấn đề và quy định hiện hành. Việc dự kiến ban hành Thông tư về xuất xứ hàng hoá sản xuất và lưu thông trong nước trước đây là điều không thể và hoàn toàn không cần thiết, vì 3 lý do như sau:
Một là một sự bế tắc pháp lý không thể giải quyết về việc bắt buộc phải xác định hàng hoá "Made in Việt Nam" hay một nước nào đó.
Hai là pháp luật đã có quy định bắt buộc về nhãn hàng hoá, với những yêu cầu cụ thể, chính xác, rõ ràng hơn quy định về xuất xứ hàng hoá.
Ba là nội dung quy định của Thông tư muốn khả thi và phù hợp với thực tế thì sẽ buộc phải trái với quy định của nghị định, thậm chí trái luật.
Do vậy, Chính phủ cần phải xây dựng nghị định điều chỉnh vấn đề trên, không phải chỉ vì nó là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn thông tư mà là sự thay đổi quan điểm xử lý vấn đề hoàn toàn khác trước đây.
Đó là ngoài những trường hợp có thể xác định rõ ràng xuất xứ hàng hoá là sản xuất tại Việt Nam tương tự như đối với hàng hoá xuất khẩu thì còn giải quyết đồng thời những trường hợp khó, thậm chí không thể xác định được xuất xứ hàng hoá là của Việt Nam.
- Dưới góc nhìn của một luật sư, ông đánh giá dự thảo Nghị định mới của Bộ Công Thương có điểm gì chưa đạt?
Hiện nay mới chỉ có đề xuất chính sách ở giai đoạn xây dựng dự thảo đề cương, chứ chưa đến giai đoạn xây dựng dự thảo nghị định, nên chưa thể bình luận cụ thể. Tuy nhiên, vẫn có thể nhận định pháp lý như sau:
Thứ nhất, đây không phải là một sáng kiến mới mà thực chất là sự sửa sai quy định hiện hành tại điểm c, khoản 1, Điều 10 về “Nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hoá” và Điều 15 về “Xuất xứ hàng hóa”, Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/7/2017 của Chính phủ về “Nhãn hàng hoá”.
Cái sai của nghị định này là chỉ quy định duy nhất “xuất xứ hàng hoá phải được ghi trên nhãn hàng hoá”, mà không có trường hợp ngoại trừ “Đối với hàng hoá sản xuất tại Việt Nam để lưu thông trong nước, đã ghi địa chỉ của nơi sản xuất ra hàng hoá đó thì không bắt buộc phải ghi xuất xứ hàng hoá” như quy định tại đoạn thứ hai, Điều 17 về “Xuất xứ hàng hoá”, Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ về “Nhãn hàng hoá” trước kia.
Thứ hai, việc ghi xuất xứ hàng hoá vẫn tương tự như quy định tại Nghị định số 43/2017/NĐ-CP hiện hành với các cụ từ: “Sản xuất tại Việt Nam”, “Chế tạo tại Việt Nam”, “Nước sản xuất: Việt Nam”, “Xuất xứ: Việt Nam” và “Sản xuất bởi: Việt Nam”. Tuy nhiên, nội dung, ngay từ tên gọi của nghị định là “Quy định cách xác định sản phẩm, hàng hoá của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam”, chứ không chỉ còn là quy định về “xuất xứ hàng hoá” như Nghị định số 43/2017/NĐ-CP cũng như Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08-3-2018 của Chính phủ “Quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hoá”;
Thứ ba, quay trở lại việc không bắt buộc phải ghi xuất xứ hàng hoá được sản xuất và lưu thông trong nước với dự kiến chính sách “Trường hợp không chắc chắn về xuất xứ Việt Nam, cá nhân, tổ chức có thể lựa chọn thể hiện nguồn gốc hàng hóa theo cách khác trên nhãn hàng hóa”. Đây chính là việc khôi phục quy định cũ, thay thế cho việc phải ghi xuất xứ hàng hoá bằng cách ghi bằng các cụm từ sau: “Thiết kế tại Việt Nam”, “Thiết kế bởi [Tên Công ty/Tập đoàn]”, “Lắp ráp tại Việt Nam”, “Hoàn tất tại Việt Nam”, “Lắp ráp bởi [Tên Công ty/Tập đoàn]”, “Chế biến bởi [Tên Công ty/Tập đoàn]”, “Sản phẩm của [Tên Công ty/Tập đoàn]” và “Đóng gói và dán nhãn bởi [Tên Công ty/Tập đoàn]”.
- Ông có thể nêu một số góp ý, bổ sung cho dự thảo?
Tôi cho rằng cần giảm thiểu sự khác biệt về quy định xuất xứ hàng hoá xuất, nhập khẩu theo quy định tại Nghị định số 31/2018/NĐ-CP. Điều này sẽ góp phần tạo ra một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng thời giảm bớt sự khó khăn trong việc thực thi của doanh nghiệp và nhận biết của người tiêu dùng.
Bên cạnh đó Chính phủ nên xem xét, không nhất thiết phải ban hành một nghị định riêng mà có thể sửa đổi hoặc ban hành mới nghị định về nhãn hàng hoá, trong đó có một chương về Xuất xử hàng hoá.
Ngoài ra, Chính phủ cũng cần phải sửa sai từ “chế biến” trong quy định xuất xử hàng hoá “nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa đó”.
- Ông có lo lắng rằng doanh nghiệp sẽ chịu phí tổn và sự phiền hà nếu dự thảo nghị định này được thông qua?
Chắc chắn để thực hiện những yêu cầu của pháp luật thì doanh nghiệp sẽ phải tốn kém không nhiều thì ít, mà ít nhất thì cũng phải mất thời gian nghiên cứu xem có phải thực hiện hay không, rồi sẽ phải thay đổi cách ghi trên sản phẩm và bao bì.
Tuy nhiên, đây không phải là quy định mới đặt ra thêm mà là chỉnh sửa quy định hiện hành cho hợp lý, khả thi hơn thì là điều hoàn toàn cần thiết.
Để bớt tốn kém cho doanh nghiệp, cơ quan soạn thảo cần đặt ra lộ trình năm ba năm mới bắt buộc phải thực hiện.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - Khi hoàn thành đồng bộ, nút giao An Phú không chỉ giải quyết tình trạng ùn tắc kéo dài tại cửa ngõ phía Đông, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng tuyến cao tốc TPHCM – Long Thành – Dầu Giây trong thời gian tới.