Phát hành trái phiếu doanh nghiệp: ‘Bàn tay hữu hình’ của cơ quan quản lý
Quang Huy -
08/11/2017 09:25 (GMT+7)
VietnamFinance xin giới thiệu phần 2 trong loạt bài viết của Thạc sĩ tài chính Quang Huy về những bất cập trong Dự thảo sửa đổi Nghị định 90/2011/ND-CP về Phát hành trái phiếu doanh nghiệp dự kiến được trình lên Chính phủ trong thời gian tới.
Dự thảo quy định mới về phát hành trái phiếu doanh nghiệp đặt ra quá nhiều điều kiện làm khó doanh nghiệp. (Ảnh minh họa)
Hiện tại, Điều 9 Nghị định 90/2011 quy định mệnh giá tối thiểu của trái phiếu phát hành trong nước là 100.000 đồng, các mệnh giá khác là bội số của 100.000. Trong khi đó Điều 7.2 của Dự thảo quy định mệnh giá trái phiếu là 1 tỷ đồng hoặc bội số của 1 tỷ.
Cần lưu ý là mệnh giá cổ phiếu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay phổ biến ở mức 10.000 đồng và mệnh giá trái phiếu Chính phủ là 100.000 đồng. Việc áp mệnh giá trái phiếu doanh nghiệp phải là 1 tỷ đồng, hoặc bội số của 1 tỷ là quá cao so với các công cụ chứng khoán khác.
Hệ quả là quy định này làm giảm tính hấp dẫn, tính thanh khoản, tính phổ biến của kênh đầu tư trái phiếu, bởi mệnh giá 1 tỷ đồng sẽ khiến cho các nhà đầu tư cá nhân hoặc các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, khó tham gia vào thị trường trái phiếu.
Ngay cả tổ chức phát hành, đặc biệt là các công ty, doanh nghiệp có tiềm năng phát triển tốt nhưng ít danh tiếng cũng sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhà đầu tư tài trợ vốn theo hình thức này. Ngoài ra, quy định này còn làm giảm tính linh hoạt khi xử lý các khoản đầu tư cho nhà đầu tư do bị khống chế về lượng trái phiếu.
Với các tổ chức phát hành trái phiếu dưới dạng trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền, 1 trái phiếu có mệnh giá 1 tỷ đồng có thể được chuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu khá lớn. Các nhà đầu tư mong muốn chuyển đổi sang lượng cổ phiếu ít hơn sẽ không thể đầu tư vào trái phiếu.
Tổ chức phát hành cũng gặp áp lực trong việc phải lựa chọn các nhà đầu tư có khả năng mua cổ phiếu với lô lớn hơn. Hoặc như trong trường hợp có quyền mua lại, do không thể chia nhỏ các trái phiếu, việc mua lại theo số lượng sở hữu của từng nhà đầu tư cũng gặp khó khăn, không đảm bảo nguyên tắc quyền ưu tiên ngang nhau giữa các trái chủ.
Quy định nói trên càng tỏ ra bất hợp lý trong bối cảnh Chính phủ đang đặc biệt khuyến khích sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp. Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam hiện rất thấp, bởi vậy kênh huy động vốn qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt là trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền, tỏ ra có hiệu quả hơn.
Về mua lại trái phiếu, Điều 22 Nghị định 90 cho phép tổ chức phát hành mua lại trước hạn hoặc hoán đổi trái phiếu để cơ cấu lại nợ, nhưng không giới hạn về thời gian. Trong khi Điều 8 Dự thảo quy định việc mua lại trái phiếu trước hạn chỉ được thực hiện khi trái phiếu đã lưu hành tối thiểu là 1 năm kể từ ngày trái phiếu được phát hành.
Trên thực tế, doanh nghiệp phát hành trái phiếu trên nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm nên việc mua lại trái phiếu nên dựa trên thỏa thuận của 2 bên là tổ chức phát hành và trái chủ. Hiện tại các công cụ nợ khác, phổ biến như các khoản vay thương mại, cũng không có các ràng buộc về thời điểm trả nợ trước hạn, đảm bảo tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch.
Thêm vào đó, việc doanh nghiệp mua lại trái phiếu trước hạn do tình hình kinh doanh khả quan nên được khuyến khích, bởi điều này sẽ góp phần đảm bảo an toàn tài chính của doanh nghiệp. Nếu quy định như Dự thảo sẽ làm giảm bớt tính linh hoạt của trái phiếu, đồng thời trong một số trường hợp có thể gây thiệt hại vật chất cho cả tổ chức phát hành và trái chủ, ví dụ như khi lãi suất thị trường tăng, trái chủ mong muốn bán lại trái phiếu trước hạn để tái đầu tư.
Tương tự, khi lãi suất giảm, tổ chức phát hành mong muốn mua lại trái phiếu và phát hành đợt mới ở mức lãi suất có lợi hơn để tiết giảm chi phí tài chính. Trong trường hợp tổ chức phát hành thay đổi mục đích sử dụng vốn hoặc sử dụng vốn không hiệu quả họ có thể mua lại trái phiếu trước ngày đáo hạn để tránh bị đọng vốn.
Cũng liên quan tới quy định về mua lại trái phiếu, Điều 8 của Dự thảo bổ sung thêm điều kiện tổ chức phát hành phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ trái phiếu đến hạn trong 3 năm liên tiếp trước năm phát hành trái phiếu. Điều khoản này có thể mâu thuẫn với quy định về điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp là "doanh nghiệp có thời gian hoạt động tối thiểu là 1 năm kể từ ngày chính thức đi vào hoạt động".
hẳng hạn, các doanh nghiệp chỉ có 1 đến 2 năm hoạt động sẽ không thể chứng minh lịch sử 3 năm trả nợ trái phiếu đúng hạn. Việc quy định như trên sẽ khiến nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện phát hành trái phiếu. Chưa kể, thực tế trong quá trình hoạt động vì lý do căng thẳng dòng tiền tại một thời điểm nhất định doanh nghiệp có thể thương lượng với một số hoặc toàn bộ các trái chủ để chậm thanh toán nợ trái phiếu trong một thời hạn nào đó, nếu quy định như trên là không tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên tham gia giao dịch.
Điều 5.1 của Dự thảo có quy định "Doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo khả năng trả nợ", đồng thời Điều 9.2 quy định "Nhà đầu tư mua trái phiếu tự đánh giá mức độ rủi ro và tự chịu trách nhiệm về quyết định đầu tư của mình". Vì vậy, nên bỏ quy định thanh toán đầy đủ các khoản nợ trái phiếu đến hạn trong 3 năm liên tiếp trước năm phát hành trái phiếu để đảm bảo nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên tham gia giao dịch trái phiếu.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.