Luật các TCTD sửa đổi: Thêm lá chắn bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền
Thu Hà -
11/01/2018 15:50 (GMT+7)
(VNF) - Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi sẽ có hiệu lực từ 15/1/2018 sẽ đưa ra nhiều cơ chế kiểm soát, hỗ trợ các ngân hàng, giúp ngân hàng trong diện bị kiểm soát sớm phục hồi. Dưới góc độ người gửi tiền, đây cũng là tin vui bởi có thể yên tâm rằng với hàng loạt các cơ chế, hệ thống ngân hàng sẽ được đảm bảo vận hành và kiểm soát tốt.
TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng.
Tại kỳ họp Quốc hội diễn ra hồi tháng 11 vừa qua, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 15/1/2018.
Nhân dịp này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong nước và quốc tế trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng hiện nay.
- Thưa ông, chỉ còn ít ngày nữa Luật TCTD sửa đổi sẽ chính thức có hiệu lực thi hành. Đây là một bộ luật quan trọng, sẽ tác động rất lớn tới toàn hệ thống ngân hàng, đặc biệt là quy định liên quan tới việc cho phá sản ngân hàng. Dưới góc độ chuyên gia có nhiều năm hoạt động trong ngành này, ông đánh giá như thế nào?
TS Nguyễn Trí Hiếu: Tôi cho rằng, Luật TCTD sửa đổi thể hiện bước ngoặc trong việc quản lý, điều hành hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Cũng phải nói thêm rằng, trước đây đã có Luật Phá sản doanh nghiệp và trong đó dành hẳn một chương về thủ tục phá sản TCTD nhưng những điều khoản ở đây chỉ quy định về mở thủ tục phá sản, thủ tục thanh lý tài sản của ngân hàng và việc phân bổ tài sản được thanh lý để hoàn trả các nghĩa vụ nợ của ngân hàng.
Còn Luật TCTD sửa đổi nhắm vào các phương án cơ cấu lại TCTD trong đó có phương án phá sản. Phương án cơ cấu lại bao gồm những phương án phục hồi, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển giao bắt buộc và phá sản. Có nghĩa là Luật TCTD sửa đổi nhắm vào việc xử lý những TCTD yếu kém với nhiều phương pháp để phục hồi và duy trì TCTD trước khi phương án phá sản được áp dụng.
- Chỉ còn gần một tuần nữa là có hiệu lực, hiện tại có một số ý kiến lo lắng rằng nếu đi vào hiệu lực thì các ngân hàng hoạt động thuộc diện yếu kém có nguy cơ bị phá sản, thưa ông?
Mọi người cũng thấy, dù Luật Phá sản có hiệu lực nhiều năm nhưng cho tới thời điểm này chưa có trường hợp nào phá sản. Trong quá khứ một số ngừng hoạt động do lệnh của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) do gặp những vấn đề trong điều hành, vốn chủ sở hữu không đảm bảo, hoạt động không hiệu quả nhưng chưa từng có ngân hàng nào bị tuyên bố phá sản cả.
Trong lịch sử cận đại của ngành ngân hàng từ sau năm 1975 đến nay chưa có ngân hàng nào bị mở thủ tục phá sản. Chẳng hạn Ngân hàng Việt Hoa đã ngưng hoạt động từ lâu theo lệnh của NHNN nhưng ngân hàng chưa bao giờ bị tuyên bố phá sản và bị thanh lý tài sản theo Luật Phá sản.
Gần đây nhiều người gọi điện hỏi tôi rằng, ngày 15/1 Luật các TCTD sửa đổi có hiệu lực thì có lo ngân hàng phá sản không? Tôi muốn trấn an mọi người rằng, việc phá sản ngân hàng sẽ không xảy ra ngày một ngày hai. Muốn thực hiện phương án phá sản, NHNN sẽ phải trước nhất đưa một ngân hàng vào diện "kiểm soát đặc biệt" rồi từ đó áp dụng những phương án cơ cấu lại như đã trình bày ở trên trước khi yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản.
Riêng về biện pháp Kiểm soát đặc biệt Luật TCTD sửa đổi quy định cụ thể những trường hợp nào một TCTD được đưa vào diện kiểm soát đặc biệt, và trong thời gian kiểm soát đặc biệt nhiệm vụ và quyền hạn của NHNN, chính phủ cũng được quy định cụ thể, trong đó có khoản vay đặc biệt mà TCTD được vay để phục hồi.
Sau cùng là việc kiểm soát đặc biệt được đánh giá ra sao và những phương án cơ cấu lại TCTD dựa trên kết quả của việc kiểm soát đặc biệt sẽ phải được thực hiện theo một trình tự đã được quy định.
Thời gian kiểm soát đặc biệt kéo dài bao lâu tùy thuộc vào hoàn cảnh của mỗi ngân hàng. Trong trường hợp Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (VNCB), NHNN kiểm soát đặc biệt trong hai năm và cuối cùng được NHNN mua lại với giá 0 đồng năm 2015. Tuy nhiên theo tôi với Luật TCTD sửa đổi đưa ra những quy trình cụ thể để cơ cấu lại TCTD thì thời gian kiểm soát đặc biệt có thể ngắn hơn nhiều.
- Trong trường hợp phá sản thì quyền lợi của người gửi tiền sẽ ra sao, thưa ông?
Trong trường hợp phá sản thì tòa án sẽ chỉ định một quản tài viên quản lý ngân hàng đó và bắt đầu thanh lý tài sản có tài sản, nợ của ngân hàng.
Trước tiên, người gửi tiền sẽ được Công ty bảo hiểm tiền gửi quốc gia (DIV) bồi thường tối đa cho mỗi khách hàng số tiền 75 triệu đồng. Người nào gửi trên số tiền trên sẽ phải đợi quản tài viên thanh lý tài sản của ngân hàng và thực hiện việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ngân hàng theo một trình tự được quy định trong Luật phá sản: chi trả cho chi phí phá sản, trả lương cho cán bộ nhân viên, trả lại số tiền DIV đã trả cho người gửi tiền trước đó, trả nghĩa vụ tài chính với nhà nước, trả các khoản nợ không có thế chấp, các khoản nợ có thế chấp, các nghĩa vụ trả nợ khác, và cuối cùng cổ đông có thể được trả lại một phần hay toàn phần vốn góp của mình nếu còn tiền sau khi thanh toán những nghĩa vụ trước đó.
Nói tóm lại là người gửi tiền trước nhất là được bồi thường đến 75 triệu đồng từ Bảo hiểm tiền gửi quốc gia, sau đó sẽ phải chờ tòa án thanh lý tài sản và có khả năng được hoàn trả 100% số tiền đã ký gửi ngân hàng.
Thực tế tại các quốc gia khác thì khó mà người gửi tiền có thể lấy lại 100% số tiền ngoài số tiền đã được Bảo hiểm tiền gửi quốc gia bồi thường. Thông thường một ngân hàng bị đưa vào thủ tục phá sản thường là một ngân hàng đã mất khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ, tiền mặt đã cạn kiệt, các tài sản sinh lời như cho vay, đầu tư đã mất nhiều giá trị vì chứa đựng nhiều rủi ro, tài sản bất động sản đã được đem bán để trả nợ trước đó. Thanh lý tài sản và lấy về được 50% trên giá trị sổ sách của tài sản có đã là may mắn lắm rồi, trong khi nghĩa vụ trả nợ bao gồm tiền gửi của khách hàng, lương nợ cán bộ nhân viên, nợ thuế cho Chính phủ và các TCTD khác là rất lớn. Chính vì lý do này mà tại hầu hết các quốc gia, phá sản ngân hàng là biện pháp cuối cùng.
Trước khi nói đến phá sản các cơ quan quản lý ngân hàng thường tìm cách sáp nhập hay bán ngân hàng (toàn phần hay từng phần) cho một tổ chức kinh tế khác. Một tổ chức kinh tế khác khi sáp nhập hay mua toàn phần một ngân hàng sẽ lãnh nhận tất cả tiền gửi khách hàng của ngân hàng đó và người gửi tiền có thể an tâm được một ngân hàng khác bảo đảm số tiền mình đã ký thác trước đó. Ở Việt Nam, ba ngân hàng thương mại mà NHNN đã mua lại trong thời gian 2 năm qua với giá 0 đồng có thể được xem như được giải quyết theo hướng này.
Có thể thấy rằng, giải pháp phá sản tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật chỉ được thực hiện khi không ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, đến quyền và lợi ích hợp pháp cũng như niềm tin của người gửi tiền.
- Theo ông thì với hàng loạt những cơ chế, quy trình đó có thể thấy NHNN sẽ có những động thái can thiệp, quản lý sát sao hơn hệ thống ngân hàng khiến người tiêu dùng yên tâm hơn và tin tưởng hơn về hoạt động an toàn của hệ thống? Hay nói một cách khác, nhìn một cách tích cực, những cơ chế này cũng giống như "lá chắn" để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng?
Chính xác, Luật các TCTD sửa đổi quy định rất chặt chẽ về việc NHNN phải can thiệp sớm vào các TCTD có nguy cơ, sau đó mới đưa vào kiểm soát đặc biệt và áp dụng phương án để hồi phục hay cho phá sản. Song song với đó, NHNN có nhiều công cụ với cơ chế đặc biệt để hỗ trợ cho ngân hàng có thể hoạt động, phục hồi trở lại.
Tôi rất tin tưởng với tất cả những cơ chế, biện pháp, kế hoạch của Chính phủ và NHNN thì nếu ngân hàng có rơi vào vòng kiểm soát đặc biệt thì vẫn có khả năng thoát ra được và sau đó hoạt động bình thường như các TCTD khác.
Tôi cũng cho rằng, Luật này sẽ góp phần khiến hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng diễn ra nhanh hơn, giúp các ngân hàng đang tái cơ cấu sớm hoàn thành mục tiêu của mình, và nhất là sẽ không ỷ lại vào việc luôn được NHNN bảo hộ và không cho phá sản. Các ngân hàng sẽ phải tự tạo năng lực cạnh tranh để tự tồn tại.
Một điều rất lợi cho nền kinh tế là từ việc cạnh tranh bình đẳng các ngân hàng sẽ không còn động thái tùy tiện nâng lãi suất để huy động vốn, vì việc nâng lãi suất trên mức bình quân của thị trường sẽ đưa ra tín hiệu là ngân hàng lâm vào tình trạng thiếu thanh khoản, và từ đó làm cho người gửi tiền cảnh giác với nguy cơ ngân hàng phá sản và tránh những ngân hàng nâng lãi suất cao.
Từ nay chúng ta có thể kỳ vọng lãi suất huy động và cho vay sẽ được cân bằng do cung cầu và những tín hiệu minh bạch của thị trường, chứ không còn dựa vào "cơ chế bảo hộ’’ của NHNN.
Hiện tại hệ thống ngân hàng đang phát triển ổn định và có những ngân hàng tái cơ cấu rất thành công như Ngân hàng TMCP Quốc dân (NCB) là một ví dụ. NCB trước đây quy mô hoạt động nhỏ nhưng thời gian qua tái cơ cấu mạnh mẽ, tăng đươc vốn chủ sở hữu, tái cơ cấu Hội đồng quản trị, Ban điều hành, tăng cường sản phẩm, dịch vụ. Với nỗ lực đó, nhà băng này đã có kết quả kinh doanh rất tốt cho năm 2017, thậm chí còn có phương án tăng cường vốn để tiến vào hàng ngũ những ngân hàng hàng đầu trong hệ thống.
Với những quy định mới và việc áp dụng Basel II trong thời gian sắp tới, những ngân hàng hiện tại hoạt động hiệu quả và đang tái cơ cấu sẽ càng có thêm cơ hội, sự hỗ trợ để tiến vào hàng ngũ ngân hàng mạnh tiêu biểu tượng cho hệ thống ngân hàng của Việt Nam, và có khả năng thâm nhập vào những thị trường tài chính quốc tế.
Ngân hàng hoạt động lành mạnh và phát triển trong nước và quốc tế là tiền đề cho an ninh tiền tệ quốc gia và sự an toàn cho người gửi tiền.
(VNF) - TS. Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Ban IV, khẳng định để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân lớn lên và dẫn dắt các chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
(VNF) - Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, việc lựa chọn động lực dẫn dắt trở nên đặc biệt quan trọng. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, tài chính, đặc biệt là tài chính công nghệ, cần được xác định là mũi nhọn chiến lược nếu muốn tạo bứt phá về năng suất, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao vị thế của nền kinh tế trong dài hạn.
(VNF) - Theo TS. Lê Duy Bình, tranh luận về ngưỡng doanh thu miễn thuế cho hộ kinh doanh thực chất mới chỉ xử lý “phần ngọn”. Điều quan trọng hơn là phải xác lập rõ địa vị pháp lý và cách tiếp cận thuế phù hợp với bản chất kinh doanh cá thể, từ đó tạo nền tảng cải cách bền vững.
(VNF) - Theo ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, dù chịu tác động từ xung đột địa chính trị, chi phí đầu vào tăng và rủi ro thương mại toàn cầu, kinh tế Việt Nam năm 2026 vẫn được dự báo tăng trưởng khoảng 7,2%. Tuy nhiên, để giữ vững đà này, Việt Nam cần linh hoạt điều hành vàvà kiên định với cải cách dài hạn.
(VNF) - TS Võ Trí Thành cho rằng trong nền kinh tế số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực có giá trị như một “mỏ vàng”, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, việc quản trị, phân bổ và kiểm soát dữ liệu lại đặt ra những thách thức phức tạp, từ quyền sở hữu, quyền riêng tư đến cân bằng giữa tự do hóa và an ninh, khiến đây trở thành một trong những bài toán khó nhất hiện nay.
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
(VNF) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng vận hành của hoạt động đầu tư, kinh doanh, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của rủi ro pháp lý và tranh chấp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn phải thiết kế lại tư duy quản trị rủi ro theo hướng chủ động, xuyên suốt toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
Trong cuộc đua nhân sự, nhiều doanh nghiệp TP.HCM đẩy nhanh cấp bậc qua danh xưng để hút ứng viên, nhưng không đi kèm lương, quyền lợi tương xứng, khiến người lao động vỡ kỳ vọng.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS. Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Ban IV, khẳng định để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân lớn lên và dẫn dắt các chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
(VNF) - Dù công tác giải phóng mặt bằng đoạn Nguyễn Trãi - Đầm Hồng, thuộc Vành đai 2.5 Hà Nội, vẫn chưa hoàn tất, dọc tuyến đã xuất hiện nhiều công trình xây trên những thửa đất nhỏ hẹp, méo mó sau phá dỡ. Đáng nói, đa số đất trong khu vực đều có nguồn gốc là đất nông nghiệp.