Đề án cải cách chính sách bảo hiểm xã hội: 3 điểm đột phá lớn
Phong Cầm -
27/06/2018 16:35 (GMT+7)
(VNF) - Bà Nguyễn Thị Minh - Tổng giám đốc BHXH Việt Nam cho biết, Đề án cải cách chính sách bảo hiểm xã hội có 3 điểm đột phá quan trọng, nhiều người được đảm bảo an sinh và đảm bảo vững chắc hệ thống an sinh xã hội.
Đề án cải cách chính sách BHXH: 3 điểm đột phá lớn.
Bà Minh cho biết, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển và thực hiện chính sách bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực đối với sự phát triển bền vững của đất nước và thể hiện tính nhân văn và bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động đã tích cực triển khai chủ trương của Đảng về đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của chính sách bảo hiểm xã hội đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Bà Nguyễn Thị Minh - Tổng giám đốc BHXH Việt Nam
- Đề án Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) vừa được Hội nghị Trung ương lần thứ 7 thảo luận, cho ý kiến. Bà có thể cho biết, đâu là những điểm đột phá và ý nghĩa trong cải cách chính sách BHXH được đề cập trong Đề án?
Bà Nguyễn Thị Minh: Đề án cải cách chính sách BHXH lần này có ba điểm đột phá lớn. Một là, mở rộng bao phủ BHXH hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân thông qua việc xây dựng hệ thống BHXH đa tầng; sửa đổi quy định về điều kiện đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu theo hướng giảm thời gian đóng BHXH xuống 15 năm và lộ trình hướng đến 10 năm; điều chỉnh công thức tính lương hưu theo nguyên tắc công bằng, đóng - hưởng, chia sẻ; mở rộng đối tượng tham gia bắt buộc đến nhóm chủ hộ kinh doanh cá thể, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt.
Cùng đó là tăng cường sự liên kết, hỗ trợ giữa các chính sách; cải cách trong thiết kế chính sách và tổ chức thực hiện nhằm củng cố niềm tin của người tham gia vào hệ thống; đẩy nhanh quá trình chuyển dịch lao động từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức.
Hai là, đảm bảo cân đối tài chính quỹ trong dài hạn. Cụ thể, sửa đổi, khắc phục bất hợp lý về chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt hơn về điều kiện hưởng, chặt chẽ hơn trong quy định hưởng BHXH một lần, tăng tuổi nghỉ hưu bình quân thực tế. Sửa đổi các quy định về mức đóng, căn cứ đóng BHXH để đạt mục tiêu tăng trưởng diện bao phủ với mức hưởng khiêm tốn thay vì mức hưởng cao nhưng diện bao phủ hẹp. Điều chỉnh tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa phù hợp thông lệ quốc tế.
Ba là, thực hiện điều chỉnh lương hưu độc lập tương đối và trong mối tương quan với tiền lương của người đang làm việc. Như vậy, khi triển khai thực hiện ba đột phá trên sẽ đem lại hiệu quả to lớn đó là sẽ có nhiều người được đảm bảo an sinh hơn, quỹ BHXH được cân đối trong dài hạn và đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Các giải pháp đã được đưa ra, vậy theo bà, chúng ta phải quan tâm đến điều gì trong khâu thực hiện để những chính sách BHXH trên thực sự mang lại hiệu quả như kỳ vọng?
Một điểm lớn trong nội dung cải cách chính sách BHXH là cải cách công tác tổ chức thực hiện để củng cố niềm tin của người tham gia vào hệ thống. Vì vậy, để đạt được hiệu quả khi triển khai, cần đặc biệt quan tâm đến một số nội dung sau:
Dự kiến đến tháng 5/2018 tổng số người tham gia BHXH là 14,035 triệu người, tăng 1,6% so với năm 2017, tuy nhiên để đạt được mục tiêu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH (theo Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020) hiện vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức, theo tôi có một số nguyên nhân chính ảnh hưởng đến phát triển đối tượng tham gia BHXH là:
Đối với BHXH bắt buộc
Ý thức chấp hành pháp luật BHXH của một bộ phận chủ sử dụng lao động chưa nghiêm, nhất là khu vực ngoài nhà nước, thường trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng vào quỹ BHXH của người lao động. Một số doanh nghiệp còn thỏa thuận với người lao động để không đóng BHXH.
Việc quản lý, nắm bắt số đơn vị mới thành lập, đang hoạt động, đơn vị thay đổi địa chỉ gặp nhiều khó khăn. Nhiều trường hợp doanh nghiệp thay đổi địa bàn hoạt động mà không thông báo cho cơ quan BHXH và với các cơ quan quản lý hoặc doanh nghiệp có chủ nước ngoài bỏ trốn nên không xác định được địa chỉ để theo dõi.
Nhiều doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc công tác khai trình sử dụng lao động, đồng thời công tác quản lý về lĩnh vực này chưa được quan tâm một cách thỏa đáng nên không nắm bắt được chính xác số đơn vị thực tế đang hoạt động cũng như biến động lao động tại các doanh nghiệp.
Cán bộ công đoàn cơ sở ở doanh nghiệp do chủ sử dụng lao động trả lương nên chưa mạnh dạn đấu tranh bảo vệ quyền lợi BHXH cho người lao động. Chính quyền một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến chính sách BHXH; chưa giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH trong chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, chưa tổng kết, đánh giá, kiểm điểm những tồn tại, hạn chế nguyên nhân chậm phát triển đối tượng tham gia BHXH.
Một bộ phận người lao động chưa hiểu đầy đủ về lợi ích khi tham gia BHXH nên thỏa thuận với doanh nghiệp không đóng BHXH; hoặc vì sợ mất việc làm nên không dám đấu tranh đòi hỏi quyền lợi tham gia BHXH.
Đối với BHXH tự nguyện
Đối tượng thuộc diện tham gia là người lao động trong khu vực phi chính thức, có thu nhập thấp, không ổn định nên không có điều kiện để tham gia; mặc dũ từ tháng 01/2018, ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng cho người tham gia nhưng mức hỗ trợ còn khiêm tốn chưa tạo động lực cho người tham gia.
Công tác tuyên truyền trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng chưa có các hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp cho các nhóm đối tượng đặc thù nên một bộ phận người dân chưa có nhiều thông tin về tình hình thực hiện chính sách pháp luật về BHXH.
Chưa hình thành được văn hóa đóng hưởng để tự đảm bảo an sinh. Điều kiện chưa cho phép thiết kế các gói quyền lợi BHXH ngắn hạn với mức đóng, mức hưởng, phương thức giao dịch phù hợp đối với người lao động trong khu vực phi chính thức.
Tăng cường công tác tuyên truyền với nội dung và hình thức phù hợp cho từng nhóm đối tượng để người dân, doanh nghiệp thấy được trách nhiệm và lợi ích khi tham gia BHXH; tuyên truyền phải đi trước một bước.
Giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH đến các địa phương. Giải quyết, chi trả các chế độ BHXH kịp thời, đầy đủ đến mọi người tham gia BHXH. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách BHXH để hạn chế trốn đóng, tránh đóng BHXH.
Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào quản lý BHXH tạo tiền đề cho việc đơn giản hóa triệt để quy trình, thủ tục tham gia BHXH, đặc biệt là BHXH tự nguyện, tạo thuận lợi tối đa cho người tham gia và thụ hưởng chính sách. Mở rộng mạng lưới đại lý thu BHXH.
- Trong Đề án có đề xuất việc giảm số năm tham gia BHXH liên tục từ 20 năm còn 10 năm trước khi về hưu để được hưởng chế độ. Tại sao Đề án lại đề xuất như vậy, căn cứ trên tính toán nào để không bị ảnh hưởng đến quỹ lương hưu?
Tham gia BHXH để phòng ngừa rủi ro trong cuộc đời lao động và khi nghỉ hưu nghĩa là nâng cao khả năng tự đảm bảo an sinh là mục tiêu phát triển BHXH của tất cả các nước và hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta. Chúng ta cần chú trọng mở rộng diện bao phủ BHXH với lợi ích khiêm tốn hơn là diện bao phủ hẹp với mức hưởng lợi cao để tiến tới BHXH toàn dân.
Hiện nay, điều kiện tối thiểu về thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu của chúng ta khá dài (20 năm) nên một bộ phận người lao động không đủ điều kiện để tích lũy hoặc tâm lý chờ đợi lâu dẫn đến muốn nhận BHXH một lần, điều này đồng nghĩa với việc họ rời khỏi hệ thống và làm giảm diện bao phủ BHXH, ảnh hưởng đến mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội bền vững của Đảng và Nhà nước.
Vì vậy, cần thiết phải xem xét giảm điều kiện tối thiểu về thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu xuống mức thấp hơn để nhiều người được hưởng lương hưu hơn. Tất nhiên về công thức tính toán cần phải điều chỉnh lại để đảm bảo nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng và chia sẻ. Như vậy, sẽ có nhiều người được đảm bảo an sinh hơn.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - Năm năm trước, khi Phú Quốc rục rịch trở thành Thành phố đảo đầu tiên trong cả nước, nơi đây đã là một đại công trường với hàng trăm dự án BĐS nghỉ dưỡng được ồ ạt đầu tư. Thì nay, để chuẩn bị cho Hội nghị APEC 2027, Phú Quốc hiện là một… siêu đại công trường với nhiều dự án hạ tầng giao thông, khu trung tâm sự kiện…