Minh bạch thông tin để 'khơi dòng' trái phiếu bất động sản
Tùng Lâm -
29/01/2024 12:55 (GMT+7)
(VNF) - Ông Lê Hồng Khang, Giám đốc Xếp hạng Tín nhiệm của FiinRatings nhấn mạnh, DN cần chủ động minh bạch thông tin về hồ sơ kinh doanh, năng lực tín dụng và cân nhắc các phương án giảm giá BĐS để tăng tính khả mại của các sản phẩm.
Ông Lê Hồng Khang, Giám đốc Xếp hạng Tín nhiệm của FiinRatings
Khôi phục niềm tin bằng minh bạch thông tin
- Ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của TPDN bất động sản tại Việt Nam từ trước đến nay? Theo ông, đâu là những thứ được và mất trong quá trình phát triển đó?
Có thể thấy rằng thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) nói chung và trái phiếu bất động sản (BĐS) trong giai đoạn khoảng 6 năm trở lại đây có tốc độ tăng trưởng quy mô nhanh hơn tương đối nhiều so với tốc độ phát triển của các hạ tầng phục vụ cho việc duy trì sự ổn định trong vận hành hoạt động của thị trường TPDN.
Trong khi đó, điểm mấu chốt là chất lượng tín dụng các tổ chức phát hành đa phần chưa cao, có thể nói là dưới chuẩn cho vay tín dụng của ngân hàng nhưng vấn đề minh bạch thông tin lại ở mức rất sơ khai, có thể nói là yếu.
Thật không may là vấn đề này diễn ra trong bối cảnh môi trường kinh doanh không thuận lợi, lãi suất tăng cao và định hướng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng đối với lĩnh vực BĐS dân cư và kinh doanh BĐS đã dẫn đến các trường hợp vi phạm nghĩa vụ nợ như chúng ta đã biết.
Điểm tích cực lớn nhất chúng tôi nhìn nhận là kênh trái phiếu đã giúp các doanh nghiệp BĐS chống chọi tốt hơn trong giai đoạn ảnh hưởng bởi COVID (giai đoạn 2020 - 2022) khi mà dòng tiền kinh doanh gián đoạn và tín dụng ngân hàng kiểm soát, làm cho quá trình hạ cánh mềm của ngành này được kéo dài hơn và do đó, còn cơ hội cho những can thiệp chính sách để có thể có cơ hội phục hồi từng bước trong bối cảnh hiện nay.
Ảnh minh hoạ
Điểm mất mát lớn nhất theo tôi có lẽ là niềm tin vào kênh TPDN của nhà đầu tư, không chỉ nhà đầu tư cá nhân mà cả với nhiều định chế tài chính phi ngân hàng trong và ngoài nước suy giảm và có lẽ cần nhiều thời gian hơn để có thể khôi phục lại.
Bởi nhìn sâu vào cơ cấu nhà đầu tư tham gia vào kênh TPDN tại Việt Nam, có lẽ ngoài ngân hàng thì các nhà đầu tư cá nhân vẫn là đối tượng có nhiều tiềm năng nhất để có thể tham gia kênh đầu tư này, trong khi các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí… cần nhiều thời gian hơn để có thể sửa đổi và cải thiện các chính sách liên quan để có thể đầy mạnh tham gia vào phân bổ tài sản vào TPDN, trong đó có TPDN BĐS.
Thông qua những vấn đề nêu trên, chúng tôi cho rằng sự cần thiết về việc tăng cường sự minh bạch về mặt thông tin. Đặc biệt, các ý kiến đánh giá về rủi về trái phiếu cũng như năng lực trả nợ của tổ chức phát hành là một trong các yếu tố quyết định trong việc phục hồi niềm tin của nhà đầu vào thị trường TPDN.
Bên cạnh đó, việc mở rộng cơ sở nhà đầu tư, tạo cơ chế khuyến khích nhà đầu tư tổ chức như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và định chế đầu tư nhằm chuẩn hóa hoạt động của thị trường cũng là yếu tố giúp đưa thị trường quay trở lại quỹ đạo phát triển trong giai đoạn sắp tới.
- Ông nhận định thế nào về áp lực đáo hạn trái phiếu trong tương lai? Việc các doanh nghiệp gia hạn trái phiếu trong thời gian qua liệu có giống như tạm bịt lỗ thủng trên con thuyền đang đắm, tức là sẽ không cầm cự được lâu?
Áp lực đáo hạn nợ vẫn tương đối lớn trong thời gian tới tức quý I và quý II năm 2024, nhất là trong bối cảnh ảm đạm của các ngành đang có dư nợ trái phiếu lớn như ngành BĐS và năng lượng cũng như một số ngành liên quan đến BĐS như xây dựng và vật liệu. Hiện nay áp lực thanh khoản đã giảm bớt một phần, phần lớn các trái phiếu gặp vấn đề đều đã được gia hạn trên 1 năm.
Chúng tôi cho rằng đây không hoàn toàn là “bịt lỗ thủng trên con thuyền đang đắm”. Bởi sẽ có một số doanh nghiệp có cơ hội khôi phục được một phần dòng tiền của họ để có thể hướng đến một kết cục có lợi cho các bên.
Tình huống này chúng tôi gọi là “happy ending”, nhất là các nhóm tổ chức phát hành mà chỉ là vấn đề mất cân đối kỳ hạn, ví dụ năng lượng tái tạo và một số phân khúc BĐS. Môi trường lãi suất thấp tính tới thời điểm hiện tại, mặt bằng lãi suất đã giảm tương đối so với cách đây nửa năm, tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp tìm các phương án tái cấp vốn với chi phí thấp hơn.
Dĩ nhiên, cũng có nhiều trường hợp đang “hạ cánh mềm” (soft landing) khi mà các bên, kể cả ngân hàng, cùng chung tay tham gia tái cấu trúc và tháo gỡ cùng doanh nghiệp.
Mặc dù vậy, trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, sự trì trệ do ảnh hưởng hậu COVID, căng thẳng địa chính trị, giá cả nguyên liệu gia tăng khiến cho nhu cầu tiêu dùng giảm sút nhanh chóng, tốc độ phục hồi của thị trường bị chậm lại.
Giải pháp gia hạn thời gian trả nợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tìm kiếm các phương án tái cấu trúc lại hoạt động kinh doanh nhưng nếu các nút thắt về vướng mắc pháp lý đối với các dự án BĐS chưa thể giải quyết trong một đến hai năm tới, khả năng các doanh nghiệp vẫn chưa thể đáp ứng được nghĩa vụ nợ sau khi gia hạn là hoàn toàn có thể xảy ra.
Biểu đồ giá trị TPDN phát hành theo ngành (Nguồn: Cổng thông tin trái phiếu Bond Portal - FiinGroup)
Vì vậy, bên cạnh việc chờ đợi các thay đổi về mặt chính sách, doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm các phương án giải quyết thông qua minh bạch thông tin về hồ sơ kinh doanh, năng lực tín dụng. Giảm giá bán BĐS cũng sẽ giúp tăng khả năng thành công của phương án tái cấu trúc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Gỡ pháp lý để đón “tiền tươi”
- Các doanh nghiệp BĐS hiện giờ rất cần “tiền tươi”. Giải pháp nào để các doanh nghiệp BĐS có thể huy động được tiền từ phát hành trái phiếu mới, nhất là trong bối cảnh sức khỏe tài chính hiện tại và triển vọng tương lai của doanh nghiệp BĐS khá kém? Liệu có nên nới lỏng hơn nữa các quy định phát hành trái phiếu hay không?
Để có được “tiền tươi” thì yếu tố “sạch” về pháp lý theo chúng tôi là quan trọng nhất. Còn các yếu tố khác thì các bên có thể đàm phán với mức lãi suất mới và kỳ hạn mới. Tiền tươi có thể có được từ ngân hàng hoặc phát hành TPDN.
Theo yêu cầu của Nghị định 65 về trái phiếu riêng lẻ thì tất cả các đợt phát hành cần có phương án sử dụng vốn cụ thể và những dự án thực sự “sạch” về pháp lý và có hồ sơ phát hành rõ ràng sẽ có thể có cơ hội “tiền tươi”. Việc phát hành TPDN và không cụ thể về mục đích sử dụng vốn sẽ khó có thể được thị trường chấp nhận trong bối cảnh thị trường và pháp lý hiện nay.
Thực tế, ngay cả khi bối cảnh chung của thị trường khó khăn, vẫn có nhiều doanh nghiệp huy động vốn TPDN hoặc tái cấu trúc thành công. Thực tế, trái phiếu BĐS vẫn huy động ở mức 72 nghìn tỷ đồng trong 10 tháng năm 2023.
Có thể không hoàn toàn là “tiền tươi” mới vào doanh nghiệp mà một phần là vốn tái cấu trúc từ nợ vay ngân hàng, nhưng điều đó cũng thể hiện sự tham gia của các nhà đầu tư mới và đồng hành, chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp.
Ngoài ra, vẫn có những điểm sáng nhất định trong ngành BĐS, đó là những doanh nghiệp đã chuẩn bị bộ đệm vốn dự phòng cho những trường hợp xấu, phát triển dự án ở tốc độ phù hợp với dòng tiền của doanh nghiệp, cũng như giữ đòn bẩy ở ngưỡng tương đối an toàn.
Điều này giúp doanh nghiệp phản ứng linh hoạt hơn trong bối cảnh thị trường không thuận lợi. Trong ngắn hạn, huy động vốn của doanh nghiệp BĐS nói chung cần sự chung tay tháo gỡ từ phía các cơ quan quản lý.
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn nhấn mạnh doanh nghiệp cần chủ động minh bạch thông tin về hồ sơ kinh doanh, năng lực tín dụng và cân nhắc các phương án giảm giá BĐS để tăng tính khả mại của các sản phẩm.
Việc nới lỏng các quy định về phát hành trái phiếu không phải là giải pháp căn cơ để khôi phục thị trường trong điều kiện hiện nay, do nhu cầu và sự quan tâm của nhà đầu tư đối với TPDN đã giảm sút trong thời gian qua.
Việc xây dựng, phát triển thị trường vốn một cách ổn định dựa trên sự minh bạch về mặt thông tin là yếu tố quan trọng trong việc tạo lập kênh huy động vốn bền vững, giữ vững niềm tin của nhà đầu tư, có lợi cho doanh nghiệp trong dài hạn.
- Gần đây, vụ việc Tân Hoàng Minh gây bất ngờ khi toàn bộ số tiền 8.600 tỷ đồng khắc phục hậu quả đã được nộp lại. Như vậy, vụ việc “khơi mào” cho những biến động lớn trên thị trường TPDN lại có thể “kết thúc có hậu”. Ông nhìn nhận thế nào về diễn biến này? Liệu có gợi mở lối thoát nào cho thị trường TPDN hay không?
Sự kiện này đã cho thấy vai trò quan trọng và quyết tâm của các cơ quan quản lý trong việc tạo lập thị trường vốn ngày càng lành mạnh cho nhà đầu tư. Bản thân các nhà đầu tư cá nhân là các chủ thể dễ bị ảnh hưởng nhất khi tham gia vào thị trường mà chưa chuẩn bị kỹ càng về mặt kiến thức cũng như cập nhật thông tin.
Chúng tôi nhận thấy, cơ quan quản lý đã có những phản ứng kịp thời và hiệu quả khi thông qua các chính sách có tính đổi mới phù hợp với tình hình trong nước và tiến tới các thông lệ quốc tế, cung cấp các biện pháp đồng bộ nhằm khôi phục niềm tin của nhà đầu tư đối với thị trường TPDN. Đây có lẽ là một trong các biện pháp quan trọng nhất mà thị trường ghi nhận để có thể khôi phục lại niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường này.
5 giải pháp thúc đẩy thị trường phát triển bền vững hơn
- Theo quan điểm của ông, làm thế nào để thị trường TPDN Việt Nam phát triển hài hòa trong tương lai, tức là cân bằng được giữa hệ quả từ các vấn đề cũ (nhất là vấn đề trả nợ) và phát triển theo hướng mới bền vững hơn?
Bài toán của thị trường đang phát triển là liên tục cải thiện và thích nghi với trạng thái mới. Đây là điều không thể tránh khỏi trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của thị trường TPDN nói riêng cũng như thị trường vốn tại Việt Nam nói chung, và điều này không phải ngày một ngày hai mà cần sự chung tay từ tất cả các thành viên trên thị trường vốn. Một số nhóm giải pháp chúng tôi đánh giá là sẽ giúp đẩy mạnh sự phát triển của thị trường trong tương lai như sau:
Thứ nhất, đơn giản và minh bạch hóa thủ tục, thông tin phát hành theo đối tượng nhà đầu tư. Cụ thể, đối với những nhà đầu tư cá nhân – đối tượng không có đủ nguồn lực để thu thập và có hệ thống phân tích thông tin riêng, điều kiện và điều khoản chuẩn cần được áp dụng, trong đó có việc trái phiếu cần được xếp hạng tín nhiệm thay vì chỉ dựa trên quy mô và mức độ đòn bẩy của TPDN trong cơ cấu vốn như tại Nghị định 155 và Nghị định 65 hiện nay.
Thứ hai, tạo cơ chế để đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư. Hiện cơ sở nhà đầu tư TPDN của Việt Nam chủ yếu tập trung vào ngân hàng thương mại và nhà đầu tư cá nhân, trong khi các định chế tổ chức bao gồm công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư trái phiếu còn rất khiêm tốn. Vì vậy, để phát triển thị trường TPDN về trung và dài hạn, cần tháo gỡ những rào cản pháp lý nhằm mở rộng sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức vào thị trường.
Thứ ba, đẩy mạnh kênh trái phiếu chào bán rộng rãi ra công chúng. Nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội là rất lớn và Việt Nam đang thiếu một cơ chế huy động vốn trong dân hiệu quả để phục vụ phát triển kinh tế dài hạn, thay vì chỉ tập trung vào tiền gửi ngân hàng, cổ phiếu và BĐS.
Thực tế, TPDN trong thời gian qua được mua bởi NHTM (40%), nhà đầu tư cá nhân (30%), các quỹ đầu tư và doanh nghiệp (30%). Do đó, nhu cầu đầu tư trái phiếu của người dân là có và rất lớn. Do đó, để đẩy mạnh kênh TPDN chào bán rộng rãi ra công chúng, chúng ta có thể xem xét cơ chế miễn trừ phê duyệt/phê duyệt nhanh nếu hồ sơ phát hành đáp ứng các quy định hiện hành và tổ chức phát hành là doanh nghiệp niêm yết, chưa có vi phạm công bố thông tin trong 5 năm gần nhất và có xếp hạng tín nhiệm ở mức cao (Ví dụ AA trở lên, tức là có khả năng đáp ứng nghĩa vụ nợ ở mức rất cao hoặc rủi ro ở mức rất thấp) bởi một tổ chức xếp hạng tín nhiệm nội địa được Bộ Tài chính cấp phép.
Thứ tư, xem xét thành lập tổ chức bảo lãnh TPDN. Việt Nam đang thiếu các định chế tài chính trung gian, trong đó có nghiệp vụ bảo lãnh tín dụng hoặc bảo lãnh thanh toán trái phiếu. Bên đứng ra bảo lãnh sẽ thực hiện cam kết thanh toán một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ nợ của tổ chức phát hành trong trường hợp rủi ro xảy ra.
Hiện trên thị trường đã có một số lô trái phiếu bảo lãnh thanh toán bởi ngân hàng thương mại và phần còn lại chủ yếu là bảo lãnh doanh nghiệp được thực hiện bởi công ty trong cùng một tập đoàn đối với tổ chức phát hành TPDN. Tuy nhiên, số lượng trái phiếu được bảo lãnh còn ít và chủ yếu được mua bởi các công ty bảo hiểm.
Nhằm mục đích khôi phục niềm tin và đa dạng hóa cho sản phẩm trái phiếu, Việt Nam nên cân nhắc hình thành khung pháp lý thành lập một số tổ chức cung cấp dịch vụ bảo lãnh tín dụng trong đó có bảo lãnh trái phiếu được thực hiện ngoài các tổ chức tín dụng.
Tổ chức bảo lãnh này có thể do tư nhân thành lập và hoạt động bởi các định chế tài chính - đầu tư lớn của Việt Nam và các tổ chức quốc tế. Vai trò của định chế này là cung cấp dịch vụ bảo lãnh trái phiếu và các công cụ nợ khác.
Các định chế đứng ra bảo lãnh phải có mức vốn đủ lớn và khuôn khổ hoạt động để có được mức xếp hạng tín nhiệm rất cao (thông thường là ở mức cao nhất AAA – ngang bằng với mức xếp hạng của Chính phủ) để có thể tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư trong việc thực hiện các nghĩa vụ bảo lãnh nếu xảy ra trường hợp một ngân hàng hoặc doanh nghiệp gặp khó khăn về đáp ứng nghĩa vụ nợ. Đổi lại, các tổ chức bảo lãnh này sẽ thu một mức phí dựa trên giá trị TPDN được bảo lãnh tùy theo mức độ xếp hạng tín nhiệm của tổ chức phát hành hoặc lô trái phiếu đó.
Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng cứng và mềm cho thị trường. Việc đưa vào khai thác và vận hành kênh kê khai và giao dịch tập trung TPDN riêng lẻ trên HNX là bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần tiếp tục hoàn thiện các cấu phần quan trọng của nền tảng cứng và mềm của thị trường nhằm hướng thị trường đến tiêu chuẩn bền vững.
Cụ thể, đưa các TPDN riêng lẻ, nhất là những lô trái phiếu đang được sở hữu bởi nhiều nhà đầu tư cá nhân lên hệ thống kê khai giao dịch HNX như quy định hiện nay. Cùng với đó, phát triển đội ngũ tư vấn đầu tư trái phiếu, nhà giao dịch trái phiếu (bond dealers) và cấp chứng chỉ chuyên môn phù hợp và khuyến khích các thành viên thị trường hoặc hiệp hội liên quan trong việc xây dựng cẩm nang và hướng dẫn cho nhà phát hành, đơn vị phân phối, lực lượng môi giới/ dealers và cẩm nang hướng dẫn phân tích và đánh giá TPDN cho nhà đầu tư cá nhân.
Bên cạnh đó, khuyến khích các thành viên thị trường xây dựng đường cong lãi suất TPDN dựa trên kết quả giao dịch trên sàn tùy theo mức độ xếp hạng tín nhiệm, kỳ hạn trái phiếu và các đặc tính khác của các sản phẩm trái phiếu. Song song, chúng ta nên tạo cơ chế khuyến khích thành lập đơn vị định giá trái phiếu độc lập nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư trong công tác báo cáo và thuyết minh, nhất là với những trái phiếu không có thanh khoản hay không có giao dịch.
Ngoài ra, khuyến khích hình thành cơ sở dữ liệu về xác suất vỡ nợ TPDN tại Việt Nam tương ứng với mức xếp hạng tín nhiệm nhằm làm cơ sở tham chiếu định giá trái phiếu, phân bổ tài sản và công tác quản trị rủi ro.
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
(VNF) - Công ty Cổ phần Giầy Thượng Đình đang lên kế hoạch chuyển đổi khu “đất vàng” tại số 277 đường Nguyễn Trãi (Hà Nội) thành tổ hợp căn hộ, văn phòng và trường học với tổng vốn đầu tư dự kiến gần 10.000 tỷ đồng.