Bình đẳng giới thực chất: Chặng đường phía trước liệu còn xa?
Nhóm tác giả -
19/10/2018 15:37 (GMT+7)
(VNF) - Hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam sẽ không chỉ là hô hào “hình thức” mà sẽ chuyển sang một giai đoạn thực chất hơn với những mục tiêu rất cụ thể theo các tiêu chí đánh giá của quốc tế, ví dụ như mục tiêu 1 “tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách về giới trong lĩnh vực chính trị”
Công ước CEDAW (Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ) là một trong những Công ước nhân quyền lớn nhất của Liên hợp quốc, được Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua vào ngày 18/12/1979.
Tính đến nay, đã có 185 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết Công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên hợp quốc. Trong đó, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia Công ước vào ngày 29/7/1980 và phê chuẩn vào ngày 27/11/1981.
Việc ký kết và phê chuẩn Công ước là cam kết có tính pháp lý của Việt Nam trước Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên bảo đảm cho phụ nữ các quyền bình đẳng theo các chuẩn mực quốc tế. Đồng thời qua đó thể hiện quyết tâm xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ trong các hoạt động của đời sống xã hội – đúng như tên gọi của Công ước.
Sau khi tham gia Công ước, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thực thi công ước tại Việt Nam, điển hình là ngày 29/11/2006, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật bình đẳng giới và việc “nội luật hoá” CEDAW đã được Đảng, Nhà nước và các ngành chức năng hết sức quan tâm. Có rất nhiều nội dung liên quan tới quyền lợi phụ nữ được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật về dân sự, hình sự, lao động, giáo dục, sức khoẻ, hôn nhân gia đình, quốc tịch, bầu cử… Việt Nam cũng có đại diện trong Uỷ ban CEDAW - cơ quan giám sát tối cao tình hình thực hiện Công ước..
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 đã đặt ra mục tiêu “đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước”.
Có thể thấy, hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam sẽ không chỉ là hô hào “hình thức” mà sẽ chuyển sang một giai đoạn thực chất hơn với những mục tiêu rất cụ thể theo các tiêu chí đánh giá của quốc tế, ví dụ như mục tiêu 1 “tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách về giới trong lĩnh vực chính trị” đã đặt ra các chỉ tiêu rất cụ thể như: tỷ lệ lãnh đạo nữ Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2020 đạt từ 35% trở lên, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ…
Việc thực hiện Chiến lược đến nay của chúng ta chỉ còn 2 năm nữa là kết thúc, liệu các mục tiêu đã đặt ra đã thực sự đạt được hay chưa?
Đánh giá nỗ lực bảo đảm bình đẳng giới của các quốc gia, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã xây dựng và công bố định kỳ hàng năm báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu (Global Gender Gap - GGG). Chỉ số Khoảng cách giới được tính toán dựa trên 4 trụ cột chính là: sự tham gia và cơ hội trong lĩnh vực kinh tế (Economic Participation and Opportunity), Thành tựu giáo dục (Educational Attainment), Sức khoẻ và sự sống (Health and Survival) và Phân quyền chính trị (Political Empowerment).
Theo báo cáo mới nhất công bố tháng 11/2017, Việt Nam đạt 0,698 điểm và đứng ở vị trí thứ 69/140 quốc gia (giảm 4 bậc so với vị trí 64/144 năm 2016). Một trong những yếu tố làm giảm điểm và thứ hạng của Việt Nam là sự sụt giảm của trụ cột Phân quyền chính trị. Trụ cột này đo lường khoảng cách nam và nữ ở cấp độ cao nhất trong việc ra các quyết định chính trị thông qua: tỷ lệ nữ là đại biểu quốc hôi, tỷ lệ nữ là lãnh đạo bộ, ngành… là các yếu tố quyết định quyền lực của phụ nữ, tiếng nói của phụ nữ trong hoàn thiện thể chế nhằm thực hiện bình đẳng giới.
Xếp hạng của Việt Nam trong Chỉ số Khoảng cách giới giai đoạn 2011-2017.
Tuy nhiên, so với chỉ tiêu tỷ lệ lãnh đạo nữ là 35% như đề cập ở trên, thực tế hiện nay nữ chỉ chiếm 24,4% tổng số đại biểu Quốc hội, 25,7% trong số những người được bầu cử HĐND tại cấp tỉnh, ở cấp huyện là 24,6% và ở cấp cơ sở là 27,7%. Khoảng cách giữa thực tế và mục tiêu còn khá xa và điều này đòi hỏi cần có các giải pháp quyết liệt ở tất cả các cấp.
Trong chương trình học tập và tìm hiểu thực tế về phát huy tiềm năng giới trong lĩnh vực cải cách do Chính phủ Australia tài trợ được tổ chức tháng 8.2018 (Aus4skills), rất nhiều chuyên gia của Australia đã chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong việc thúc đẩy tỷ lệ nữ tham gia các vị trí quan trọng của chính quyền các Bang hay chính phủ Australia.
Một là, chiến lược về tăng lệ lãnh đạo nữ trong khu vực nhà nước đòi hỏi phải được nhất quán về mặt tư duy ở mọi cấp, đặc biệt là những người đứng đầu cơ quan.
Hai là, việc thực hiện các chiến lược đã đặt ra phải được thường xuyên rà soát để tìm ra những điểm vướng mắc đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời.
Ba là, khuyến khích áp dụng các sáng kiến trong phát triển lãnh đạo nữ. Ví dụ, Chính quyền bang Queensland, Australia đã có sáng kiến về phát triển lãnh đạo nữ trẻ theo cách 1-1 (1 cán bộ đương nhiệm sẽ kèm cặp, hỗ trợ đào tạo 1 cán bộ nữ có khả năng).
Với sáng kiến được đưa ra trong năm 2017 này, riêng trong năm 2018, tỷ lệ nữ ở vị trí cấp cao trong chính quyền bang đã tăng lên đáng kể và gần đạt tới mục tiêu đã đề ra là 50% lãnh đạo cấp cao của chính quyền là nữ.
Quay lại câu chuyện của Việt Nam, chúng ta cũng chỉ còn 2 năm nữa để hoàn thành mục tiêu đề ra trong chiến lược về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020. Các giải pháp cần thực hiện lúc này cần có sự đột phá và quyết liệt như những kinh nghiệm mà nước bạn đang thực hiện thành công.
(VNF) - TS. Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Ban IV, khẳng định để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân lớn lên và dẫn dắt các chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
(VNF) - Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, việc lựa chọn động lực dẫn dắt trở nên đặc biệt quan trọng. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, tài chính, đặc biệt là tài chính công nghệ, cần được xác định là mũi nhọn chiến lược nếu muốn tạo bứt phá về năng suất, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao vị thế của nền kinh tế trong dài hạn.
(VNF) - Theo TS. Lê Duy Bình, tranh luận về ngưỡng doanh thu miễn thuế cho hộ kinh doanh thực chất mới chỉ xử lý “phần ngọn”. Điều quan trọng hơn là phải xác lập rõ địa vị pháp lý và cách tiếp cận thuế phù hợp với bản chất kinh doanh cá thể, từ đó tạo nền tảng cải cách bền vững.
(VNF) - Theo ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, dù chịu tác động từ xung đột địa chính trị, chi phí đầu vào tăng và rủi ro thương mại toàn cầu, kinh tế Việt Nam năm 2026 vẫn được dự báo tăng trưởng khoảng 7,2%. Tuy nhiên, để giữ vững đà này, Việt Nam cần linh hoạt điều hành vàvà kiên định với cải cách dài hạn.
(VNF) - TS Võ Trí Thành cho rằng trong nền kinh tế số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực có giá trị như một “mỏ vàng”, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, việc quản trị, phân bổ và kiểm soát dữ liệu lại đặt ra những thách thức phức tạp, từ quyền sở hữu, quyền riêng tư đến cân bằng giữa tự do hóa và an ninh, khiến đây trở thành một trong những bài toán khó nhất hiện nay.
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
(VNF) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng vận hành của hoạt động đầu tư, kinh doanh, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của rủi ro pháp lý và tranh chấp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn phải thiết kế lại tư duy quản trị rủi ro theo hướng chủ động, xuyên suốt toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
Trong cuộc đua nhân sự, nhiều doanh nghiệp TP.HCM đẩy nhanh cấp bậc qua danh xưng để hút ứng viên, nhưng không đi kèm lương, quyền lợi tương xứng, khiến người lao động vỡ kỳ vọng.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS. Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Ban IV, khẳng định để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần khơi thông nguồn lực, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân lớn lên và dẫn dắt các chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
(VNF) - Dù công tác giải phóng mặt bằng đoạn Nguyễn Trãi - Đầm Hồng, thuộc Vành đai 2.5 Hà Nội, vẫn chưa hoàn tất, dọc tuyến đã xuất hiện nhiều công trình xây trên những thửa đất nhỏ hẹp, méo mó sau phá dỡ. Đáng nói, đa số đất trong khu vực đều có nguồn gốc là đất nông nghiệp.