Các nỗ lực giảm nghèo sẽ bị phá hủy nếu không thu hẹp khoảng cách giàu-nghèo
Hoàng Lan -
13/09/2018 18:24 (GMT+7)
(VNF) - Trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN tại Hà Nội (WEF ASEAN) , Oxfam đã công bố báo cáo về “Các mô hình kinh doanh tương lai: Định hình tăng trưởng bao trùm ở Đông Nam Á”, trong đó nhấn mạnh yếu tố bất bình đẳng và chênh lệch giàu nghèo.
Bà Lilian Mercado Carreon - Giám đốc khu vực châu Á của Oxfam
Báo cáo của Oxfam đưa ra các mô hình kinh doanh mà doanh nghiệp có thể áp dụng để theo đuổi cả mục tiêu bền vững tài chính và các kết quả tốt đẹp khác về xã hội, cộng đồng và môi trường.
Oxfam chỉ ra rằng Đông Nam Á đã chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, phần lớn từ các doanh nghiệp tư nhân. Chỉ trong chưa đầy 5 thập kỷ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã tăng từ 37,6 tỷ USD vào năm 1970 lên 2,6 nghìn tỷ USD vào năm 2016.
Đáng tiếc là, mặc dù nền kinh tế đã có nhiều bước tiến, sự phân hóa giàu nghèo vẫn tiếp tục tăng. Trong khi châu Á - Thái Bình Dương có nhiều tỷ phú hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới, vẫn còn hơn 70 triệu người tại Đông Nam và Đông Á bị thiếu ăn.
"Tại Việt Nam, số tiền mà người đàn ông giàu có nhất quốc gia này kiếm được trong một ngày nhiều hơn số tiền mà người nghèo nhất kiếm được trong 10 năm", báo cáo nêu rõ.
VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với bà Lilian Mercado Carreon - Giám đốc khu vực châu Á của Oxfam, xoay quanh chủ đề này.
- Thưa bà, trong báo cáo vừa công bố trong khuôn khổ WEF ASEAN , Oxfam có nhận định rằng ở Việt Nam, thu nhập 1 ngày của người giàu nhất bằng thu nhập 10 năm của người nghèo nhất. Xin bà làm rõ hơn về nhận định này thông qua một vài ví dụ/số liệu?
Vâng, đó là một trong những số liệu thống kê mà chúng tôi trích dẫn để chứng minh tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập. Ở Việt Nam, số tiền mà người giàu nhất kiếm được trong một ngày có thể bằng số tiền mà người nghèo nhất kiếm ra trong 10 năm.
Có một điểm đáng lưu ý rằng trong khi khu vực liên tục chứng minh sự tăng trưởng kinh tế thì sự bất bình đẳng ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Trên thực tế, khoảng cách giàu nghèo đã tăng lên đáng kể trong 2 thập kỷ qua. Bạn có thể kiểm tra số liệu thống kê về sự gia tăng bất bình đẳng trong báo cáo này.
Chính phủ các quốc gia Đông Nam Á đã đặt ra các mục tiêu phát triển bền vững. Một trong số đó là SDG 10, đó là việc đảo ngược lại tình trạng bất bình đẳng. Tuy nhiên, đối với khu vực Đông Nam Á, SDGs đã không được thực hiện đúng như cam kết. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nhiều giải pháp để giải quyết tình trạng này.
Một điều quan trọng mà chúng ta cần biết rằng một phần của tăng trưởng là tạo ra công ăn việc làm cho mọi người. Tuy nhiên, chúng ta cần xem xét kỹ hơn, ngoài việc có việc làm thì thu nhập của họ là bao nhiêu? Liệu mức lương đó có cho phép họ có một cuộc sống tốt đẹp hơn và hưởng các quyền lợi mà họ có thể được nhận. Châu Á được cho là có 2/3 dân số trong độ tuổi lao động, họ có việc làm nhưng thu nhập lại không đủ sống.
- Đặt vấn đề này trong tương quan với các nước trong khu vực thì Việt Nam đang ở đâu, thưa bà?
Vâng, tôi nghĩ rằng cần phải thừa nhận là Việt Nam đã làm rất nhiều việc để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo. Trên thực tế, có một điểm đáng lưu ý là Việt Nam đã làm cách nào để giảm nghèo trong một thời gian ngắn như vậy?
Bởi vì Việt Nam đã làm rất tốt trong việc giảm nghèo nên việc cần làm lúc này là giảm sự bất bình đẳng. Có một nhóm người vẫn mắc kẹt trong nghèo đói vì sự chênh lệch quá lớn. Và nó không chỉ là sự bất bình đẳng trong thu nhập, một yếu tố quan trọng của sự bất bình đẳng đó là sự bất bình đẳng giới.
Mặc dù phụ nữ có cơ hội có việc làm nhưng họ không thể có mức thu nhập như nam giới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thu nhập của phụ nữ chỉ bằng 70-90% thu nhập nam giới khi làm cùng một công việc.
Không những vậy, phụ nữ cũng có những công việc không chính thức, cái mà họ không được bảo vệ bởi xã hội hoặc hợp đồng lao động rất dễ bị vi phạm. Họ không có quyền hưởng trợ cấp bao gồm lương hưu, nghỉ ốm và nghỉ thai sản. Và họ cũng bị phân biệt đối xử bởi chính giới tính của mình, bởi họ là phụ nữ.
Tôi nghĩ rằng đó là thực trạng của Việt Nam, chính phủ đã thực hiện khá nhiều chính sách tiến bộ nhưng sẽ tốt hơn nếu ưu tiên giải quyết vấn đề bất bình đẳng.
- Theo bà, những hệ lụy gì sẽ xảy ra nếu khoảng cách không được thu hẹp dần?
Như tôi đã nói, nếu sự bất bình đẳng không suy giảm, nếu các chính phủ, khu vực kinh tế và xã hội dân sự không chú ý đến sự bất bình đẳng và coi nó là một vấn đề cấp bách thì có rất nhiều hậu quả tiềm ẩn từ nó.
Trước hết, nó sẽ phá hủy các nỗ lực giảm nghèo. Đó là một mối quan tâm lớn. Thứ hai, điều đó đồng nghĩa với mục tiêu phát triển kinh tế khu vực sẽ bị đe dọa. Thứ ba, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo làm cho xã hội không ổn định bởi nó tạo ra những căng thẳng, mâu thuẫn và các vấn đề xã hội khác. Vì vậy, có rất nhiều nguyên nhân khiến chúng tôi đưa sự bất bình đẳng là vấn đề cấp thiết hàng đầu.
- Chúng tôi hiểu rằng muốn thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo thì trước hết các doanh nghiệp cần đẩy mạnh thực thi trách nhiệm xã hội của mình. Liệu điều này có mâu thuẫn với mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp không?
Vâng, tôi rất vui vì bạn đặt ra câu hỏi đó. Bởi vì chúng tôi nghĩ rằng với sự điều hành dựa trên tính phù hợp của các nền kinh tế châu Á, chìa khóa giải quyết vấn đề bất bình đẳng nằm trong tay chính phủ và các doanh nghiệp. Chính phủ cần điều tiết các doanh nghiệp và cung cấp môi trường chính sách phù hợp nhằm khuyến khích doanh nghiệp đóng góp vai trò tích cực trong phát triển, góp phần tạo ra một xã hội bình đẳng hơn.
Một nghiên cứu của Mastercard nói rằng thị hiếu người tiêu dùng đang thay đổi. Điều đó được chứng minh ở châu Á, khoảng 65% người tiêu dùng sẵn sàng trả tiền cho các sản phẩm hoặc dịch vụ được sản xuất bởi các doanh nghiệp có trách nhiệm với xã hội. Đó chính là động lực để các doanh nghiệp có trách nhiệm hơn với xã hội và để mô hình doanh nghiệp tương lai xuất hiện.
Bây giờ, chúng ta hãy nghĩ xem các doanh nghiệp đã suy nghĩ thế nào về vai trò của mình trong việc thay đổi chính mình. Chúng tôi có nhiều ví dụ điển hình cho thấy các doanh nghiệp đang cố gắng trở thành những công dân tốt hơn, có trách nhiệm xã hội hơn. Ngoài ra cũng có rất nhiều ví dụ về các mô hình kinh doanh.
Những gì đang thực sự sẽ diễn ra là thứ mà chúng tôi gọi là tương lai của doanh nghiệp, nơi không quá quan trọng về vấn đề tối đa hóa lợi nhuận mà là quan tâm nhiều hơn vào các muc tiêu xã hội. Vì vậy, mục đích xã hội là tối quan trọng, nó nằm ở đầu chương trình nghị sự của WEF ASEAN và mô hình kinh doanh được tạo ra để đạt được mục tiêu xã hội đó. Chúng tôi nghĩ đó mới thực sự là tương lai và đó là cái mà ASEAN nên hướng đến.
- Ở Việt Nam, phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ còn rất khó khăn trong việc duy trì sự tồn tại và tăng trưởng của doanh nghiệp. Liệu đó có thể là trở ngại để họ thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không?
Nếu bạn nhìn vào tất cả các quốc gia bao gồm cả Việt Nam, công ăn việc làm thực sự được tạo ra rất nhiều bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là những công ty tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chúng tôi nghĩ rằng điều thực sự quan trọng đối với trách nhiệm xã hội là đưa vào được các mô hình xã hội đó và đó là lý do Oxfam đang cố gẵng tác động đến chuỗi giá trị toàn cầu đó.
Nhưng chúng tôi nghĩ rằng có rất nhiều cơ quan hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các tổ chức như Oxfam đang cố gắng làm việc với các doanh nghiệp vừa và nhỏ để cải thiện năng suất và chuyển đổi mô hình doanh nghiệp.
Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam, Quốc hội đang thảo luận về một bộ luật có liên quan đến việc công nhận chính thức hình thức doanh nghiệp xã hội, tôi không chắc nó có được thông qua hay không.
Luật pháp công nhận các doanh nghiệp xã hội sẽ là một sự hỗ trợ rất lớn bởi vì nó được hợp thức hóa, và với sự công nhận đó, các doanh nghiệp sẽ chuyển đổi mô hình của mình. Ở các nước châu Á hoặc Đông Nam Á khác, có nhiều chính sách và chương trình hành động của chính phủ. Ví dụ ở Singapore, chính phủ có nhiều chính sách giúp đỡ các doanh nghiệp xã hội. Vì vậy, tôi nghĩ rằng vấn đề đó càng ngày càng được chính phủ quan tâm hơn.
Đảm bảo mức lương tối thiểu cũng rất quan trọng. Tôi đã nói rằng châu Á là nơi sản sinh ra lực lượng lao động. Vì vậy, đảm bảo mức lương tối thiểu bằng pháp luật để các doanh nghiệp tuân thủ là trách nhiệm của chính phủ.
Tuy nhiên, tôi nhận ra rằng chỉ yêu cầu trả mức lương tối thiểu sẽ không giải quyết được vấn đề, bởi cái mà những người lao động thực sự cần là mức lương đủ sống, sẽ cần mức thu nhập đủ để họ tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, thực phẩm và mọi thứ để đảm bảo tiêu chuẩn sống chất lượng.
- Chúng ta đã nói nhiều đến trách nhiệm của doanh nghiệp, thế còn vai trò của người nghèo/người lao động thì sao thưa bà? Họ nên làm gì để chủ động thu hẹp khoảng cách với người giàu?
Có một vai trò cho tất cả mọi người kể cả người nghèo. Tôi nghĩ rằng ở nhiều nước trên khắp châu Á, người lao động đang cố gắng thành lập công đoàn để họ có thể thương lượng, đấu tranh cho mức lương và phúc lợi tốt hơn. Vì vậy, đó chắc chắn là cách cho lao động nghèo.
Công đoàn sẽ đại diện cho tiếng nói của người lao động, có thể giải thích cho các bên liên quan khác về tình hình của người lao động. Và nó không bắt đầu bằng việc tìm hiểu vấn đề là gì. Tôi nghĩ điều quan trọng hơn là tạo ra một không gian để các bên liên quan tham gia vào việc đưa ra vấn đề và giải pháp giải quyết vấn đề đó.
Chúng tôi nghĩ rằng đây thực sự là một yếu tố cần có của các doanh nghiệp, nó không chỉ là nơi các cổ đông đưa ra quyết sách, mà còn là nơi các bên được tham gia và đưa ra tiếng nói của mình.
Vấn đề của người nghèo không chỉ nằm ở khoảng cách về thu nhập với người giàu. Đó không phải là điều duy nhất mà chúng ta đề cập ở đây. Bất bình đẳng, trên thực tế, diễn ra bởi vì nó không đơn thuần là tiền bạc nằm trong tay một vài người.
Vì vậy, tất nhiên, người nghèo sẽ phải tự khẳng định mình, xác định họ bao gồm một nhóm người và thúc đẩy việc mở ra các không gian mở cho các cuộc đối thoại như tôi đã đề cập. Nhưng sẽ không đủ nếu chỉ có người nghèo nỗ lực thu hẹp khoảng cách này. Những người giàu, lãnh đạo doanh nghiệp và chính phủ phải nhận ra vai trò của mình và nỗ lực hỗ trợ đưa ra giải pháp giảm thiểu vấn đề này.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Đà tăng lãi suất thời gian qua làm dấy lên những lo lắng về rủi ro đảo chiều chính sách tiền tệ, cũng như quan ngại về tác động tới các hoạt động đầu tư, kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực bất động sản. Để mở rộng góc nhìn về vấn đề nóng bỏng và gây nhiều tranh luận này, Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Huy – CEO Khoa Tài chính ngân hàng - Đại học Nguyễn Trãi:
(VNF) - Theo GS. TS Hoàng Văn Cường, để doanh nghiệp nhà nước ở vị thế dẫn dắt nền kinh tế đúng với tinh thần của Nghị quyết 79, nhà nước cần làm tốt vai trò “phân định sân chơi” ngay từ đầu, tránh tiềm ẩn nguy cơ xung đột.
(VNF) - Việc hơn 300.000 tấn thực phẩm bị ùn ứ tại cửa khẩu sau khi Nghị định 46/2026/NĐ-CP có hiệu lực đã bộc lộ rõ những điểm nghẽn trong thực thi chính sách. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính, Chuyên gia Kinh tế Huỳnh Thị Mỹ Nương, chỉ ra nguyên nhân của sự “lệch pha” giữa quy định và thực thi, đồng thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ nhằm góp phần bảo vệ chuỗi cung ứng và niềm tin doanh nghiệp.
(VNF) - Việc Nghị định 46/2026/NĐ-CP vừa có hiệu lực đã khiến hàng nghìn lô hàng ùn ứ tại cửa khẩu không chỉ là một trục trặc kỹ thuật trong quản lý chuyên ngành, mà còn làm lộ điểm nghẽn của quá trình thực thi chính sách. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, câu chuyện này đặt ra câu hỏi lớn về năng lực phối hợp, dự báo và kỷ luật thể chế.
(VNF) - Những vụ việc như ách tắc 300.000 tấn hàng, DN hóa chất khó khăn nhập hàng hóa và nhiều vụ việc khác tiếp tục cho thấy những bất ổn trong môi trường kinh doanh Việt Nam. Luật sư Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW cho rằng, việc các lô hàng nhập khẩu bị ách tắc tại cảng do không xin được giấy phép về vệ sinh an toàn thực phẩm là hệ quả trực tiếp của sự chậm trễ trong hướng dẫn thi hành luật. Đây chính là một điểm nghẽn cần cải cách mạnh mẽ trong thời gian tới
(VNF) - Luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, việc Luật Hóa chất (sửa đổi) có hiệu lực nhưng thiếu hướng dẫn kịp thời đã tạo ra khoảng trống pháp lý, khiến doanh nghiệp “mắc kẹt”, còn cơ quan quản lý lúng túng khi giải quyết thủ tục, làm gia tăng rủi ro và chi phí cho hoạt động sản xuất – kinh doanh.
(VNF) - PGS.TS Ngô Trí Long đánh giá rằng, trong bối cảnh chính sách tài khoá được đẩy mạnh với gần 1 triệu tỷ đồng “bơm” vào nền kinh tế nhưng room tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, đây sẽ là một năm kiểm nghiệm năng lực điều hành kinh tế trong thế cân bằng “khó”.
(VNF) - Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 – 2030, theo ông Nguyễn Bá Hùng - Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, việc cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và khơi thông nguồn lực của khu vực tư nhân sẽ giữ vai trò then chốt đối với tăng trưởng bền vững trong những năm tới.
GS. Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã "phát đi thông điệp mạnh, thể hiện tinh thần hành động cao với các đột phá rõ ràng, nổi bật là xác lập mô hình tăng trưởng mới".
(VNF) - Luật sư Nguyễn Văn Tuấn - Giám Đốc Công Ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội) cho rằng, vụ việc 130 tấn lợn nhiễm dịch được đưa vào sản xuất tại Công ty Đồ hộp Hạ Long là minh chứng điển hình cho những lỗ hổng lớn trong cơ chế hậu kiểm an toàn thực phẩm. Khi nguyên liệu bẩn lọt qua các khâu giám sát trong thời gian dài cho thấy việc kiểm tra sau cấp phép còn nặng hình thức, chưa đủ khả năng ngăn chặn và phát hiện vi phạm từ sớm.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - UBND TP. Hà Nội vừa có quyết định giao 9.861m2 đất (đợt 1) tại phường Định Công cho Công ty Cổ phần Tập đoàn Bắc Hà để thực hiện đầu tư xây dựng khu nhà ở xã hội Tây Nam Kim Giang tại ô đất có ký hiệu CT7.