TS Lê Duy Bình: 'Tăng trưởng 6,0- 6,5% GDP trong năm nay là hoàn toàn khả thi'
Đỗ Trang -
30/05/2022 12:10 (GMT+7)
(VNF) - Nhìn lại kết quả đã đạt được trong 4 tháng đầu năm, TS Lê Duy Bình – Giám đốc điều hành Economica Việt Nam, cho rằng mục tiêu tăng trưởng 6,0- 6,5% GDP trong năm nay là hoàn toàn khả thi.
TS Lê Duy Bình
Ông Bình cũng nhấn mạnh gói hỗ trợ phục hồi phát triển kinh tế - xã hội với quy mô 350.000 tỷ đồng, tương đương 4,3% GDP, sẽ tiếp thêm sức mạnh cho doanh nghiệp, để doanh nghiệp và nền kinh tế có thể phục hồi nhanh và bền vững.
NỀN KINH TẾ PHỤC HỒI MẠNH MẼ
- Ông đánh giá như thế nào về tốc độ phục hồi kinh tế ở thời điểm hiện tại?
TS Lê Duy Bình: Từ quan sát cá nhân, tôi cho rằng nền kinh tế đang bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ với nhiều tín hiệu tích cực. Mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tiếp nối đà phát triển của quý I/2022, tình hình kinh tế tháng 4/2022 của nước ta tiếp tục khởi sắc. Thậm chí, nhiều ngành đạt kết quả tốt hơn những năm trước đại dịch, trong đó nổi bật là lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Bốn tháng đầu năm 2022 kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2022 tăng thấp nhất trong mức tăng của tháng 4 giai đoạn 2017 - 2022; vấn đề an ninh lương thực, năng lượng được bảo đảm; thu ngân sách nhà nước (NSNN) ước đạt 45,7% dự toán, tăng 13,3%.
Cùng với đó, sản xuất công nghiệp tháng 4 ước tính tăng 2% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này là do dịch Covid-19 đã được kiểm soát, các doanh nghiệp chủ động hơn về lao động và kế hoạch sản xuất kinh doanh, khắc phục khó khăn để phục hồi, mở rộng sản xuất. Đây sẽ là tiền đề quan trọng giúp nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ và bứt phá trong tương lai.
Với tốc độ phục hồi như vậy, theo quan điểm của ông, liệu mục tiêu tăng trưởng từ 6.0-6.5% GDP đề ra có đạt được không?
Tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng 6% - 6,5% năm nay như nghị quyết của Chính phủ đề ra là có cơ sở, không phải là quá lạc quan khi tính đến sức bật trong nước và nhu cầu hàng hóa của thế giới. Đặc biệt là việc triển khai các chính sách trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội mới được ban hành sẽ hỗ trợ đẩy nhanh tốc độ phục hồi.
THẬN TRỌNG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
- Trong bối cảnh đó, việc thực thi gói hỗ trợ 350.000 tỷ đồng của nhà nước sẽ có ý nghĩa như thế nào?
Quản trị vận hành chương trình phục hồi là yếu tố quyết định thành công của gói hỗ trợ nói chung và của chương trình phục hồi kinh tế nói riêng. Với chương trình phục hồi kinh tế lần này, một lần nữa Chính phủ đã cho thấy quyết tâm hành động với một số điểm nhấn trọng tâm, trọng điểm trong chương trình phục hồi nhanh và phát triển bền vững, như thông điệp của Thủ tướng Phạm Minh Chính.
Trên thực tế, gói hỗ trợ 350.000 tỷ đồng của nhà nước đã đi vào thực hiện theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/1/2022 về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình (Nghị quyết 11/NQ-CP).
Đáng nói chương trình cũng đã bước đầu cho thấy các tác động trực tiếp và gián tiếp tích cực đối với nền kinh tế. Trực tiếp nhất là việc các bộ, ngành đã rất khẩn trương xây dựng các văn bản pháp luật, bắt tay vào triển khai các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của chương trình, chẳng hạn như điều chỉnh thuế suất VAT từ 10% xuống còn 8% ngay từ đầu tháng 2/2022…
Bên cạnh đó, việc hỗ trợ nền kinh tế còn được thực hiện khẩn trương thông qua những chính sách mới ngoài Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế (như việc tích cực xây dựng đề xuất giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu có hiệu lực từ 1/4/2022, điều chỉnh giới hạn giờ làm thêm…) hay chuẩn bị nền tảng thể chế cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.
Cộng đồng doanh nghiệp đã có tâm lý và kỳ vọng tích cực, kể cả ngay trước và sau khi ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP: số doanh nghiệp thành lập mới trong 2 tháng đầu năm đã tăng tới 11,9% so với cùng kỳ năm 2021, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động cũng tăng 102,5%...
- Nhưng, cũng phải thừa nhận một thực tế rằng, việc triển khai gói kích thích cũng có những rủi ro như lạm phát, vốn rẻ chảy vào một số lĩnh vực nóng, không khuyến khích. Chúng ta rút kinh nghiệm từ các gói kích thích như năm 2008?
Đúng là chúng ta có bài học mới đây thôi là giai đoạn 2008 - 2010, thời điểm nền kinh tế chịu một khủng hoảng nặng nề, do tác động từ bên ngoài. Khi đó, chúng ta có gói cứu trợ lớn so với quy mô kinh tế thời điểm đó. Một trong những biện pháp thực hiện là cấp bù lãi suất, điều này tạo ra nhiều méo mó thị trường. Với gói cấp bù, bơm lượng tiền rất lớn ra thị trường.
Năm 2009 - 2010, lạm phát có thời điểm lên tới 15% - 18%, doanh nghiệp phải trả lãi suất vay vốn ngân hàng tới 21% - 22%, rõ ràng không một doanh nghiệp nào mong muốn. Như vậy, có thể một số bộ phận doanh nghiệp được hưởng lãi suất cấp bù trong thời gian ngắn nhưng để lại hệ luỵ lớn là rất nhiều doanh nghiệp khác, có cả những doanh nghiệp đang khoẻ mạnh, hay chính những doanh nghiệp đang được hưởng cấp bù lãi suất bị tác động tiêu cực khi phải vay vốn với lãi suất cao. Đây là hệ luỵ chúng ta đã nhìn thấy, chứ không quá xa.
Bên cạnh đó việc thực hiện chính sách cấp bù lãi suất cho một số nhóm doanh nghiệp vô tình tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt với người tiếp cận nguồn vốn này. Để sản xuất kinh doanh, không loại trừ nhiều doanh nghiệp vay đảo nợ, trả nợ cũ, không đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Thậm chí nhiều trường hợp, doanh nghiệp vay vốn dù không có nhu cầu, người biết cách tiếp cận nguồn vốn hưởng lợi chứ không phải người cần vốn thực sự, vay rồi họ cho vay lại để hưởng chênh lệch...
Điều này làm phương hại, xói mòn nguyên tắc thương mại, phân bổ nguồn lực, tạo ra quyết định về tín dụng mang tính chất không khách quan dẫn tới sức khỏe của hệ thống ngân hàng thương mại bị suy yếu. Rõ ràng sau đó, dù không hoàn toàn do cấp bù lãi suất nhưng đây là một nguyên nhân khiến một số ngân hàng thời điểm đó rơi vào tình trạng khó khăn về sức khoẻ tài chính.
Điều này là rủi ro phải tính toán đến, bởi cấp bù lãi suất chỉ đem lại lợi ích trước mắt còn tác động lâu dài thì chưa lường hết được. Do vậy cần cân nhắc phương án hỗ trợ cần thiết, nếu không chính doanh nghiệp sẽ phải trả giá nếu rủi ro đó xảy ra. Đặc biệt, chúng ta cần phải tính đến sử dụng hết nguồn lực, dư địa hiện có, năng lực giải ngân. Nếu làm được điều này, gói kích thích theo tôi chỉ 300-400 nghìn tỷ đồng là vừa. Chúng ta luôn đặt vấn đề tìm kiếm nguồn lực nhưng sử dụng không hiệu quả thì không nên.
ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH THỂ CHẾ
- Ở góc độ chính sách vĩ mô, theo ông, cần làm gì để hỗ trợ cho quá trình phục hồi nền kinh tế nhanh và bền vững hơn?
Những chính sách hỗ trợ như vừa qua là kịp thời nhưng chỉ mang tính ngắn hạn. Quan trọng là những chính sách, luật pháp phải đặt nền tảng dài hạn hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp, thay vì “đánh cờ nước một”. Năm 2020, 2021 chúng ta đã “đánh cờ nước một” là năm nay hỗ trợ như thế này, như thế kia. Thời điểm này không nên làm vậy nữa mà phải tính 5, 10 năm tới sẽ thế nào, xác định tầm nhìn trung hạn thay vì giải quyết khó khăn trước mắt.
Thời gian qua, dù đã nhiều cải thiện trong các chính sách về đầu tư, đất đai, thủ tục hành chính song vẫn cần phải đẩy mạnh hơn nữa mới bắt kịp được đà phát triển của thế giới. Các chính sách hỗ trợ quá trình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp phải mạnh mẽ hơn, kịp thời hơn. Dù doanh nghiệp đã có quyền tự do kinh doanh, nhưng sự hỗ trợ đổi mới sáng tạo còn thiếu quyết liệt.
Chẳng hạn ở những lĩnh vực mới như fintech, ta vẫn còn rất nhiều hạn chế về tự do sáng tạo, thử nghiệm mô hình kinh doanh mới, ngay như quy chế về sandbox đã bàn mãi nhiều năm giờ vẫn chưa có… Hay như cơ chế thu hút PPP, dù đã có luật nhưng vẫn rất khó khăn khi triển khai, không thu hút được dòng vốn xã hội như kỳ vọng.
Thực tế, thể chế chính sách vẫn là nút thắt lớn, mà đây là nền tảng để ta thoát bẫy thu nhập trung bình, trở thành nước thu nhập cao. Theo dõi chuyến đi công tác xuyên Việt đầu năm của Thủ tướng Phạm Minh Chính đến các công trình trọng điểm, có thể thấy rất nhiều vấn đề được ông nêu ra mà bản chất của nó là thể chế chính sách, từ những vấn đề rất cụ thể như đoạn đường chia làm bao nhiêu gói thầu, thủ tục triển khai, trách nhiệm của các địa phương, của nhà thầu thực hiện dự án…
Gần đây, chúng ta đã tích cực tháo gỡ nhiều vướng mắc về cơ chế chính sách trong hoạt động kinh doanh, đầu tư… Song những sửa đổi này chỉ mới tháo gỡ một hai điểm vướng mắc, chỉ giải quyết phần bề mặt mà chưa đụng đến được phần quan trọng là sửa đổi mang tính nguyên tắc chung, tạo triết lý cơ bản để hoạt động kinh tế vận hành bền vững, bài bản.
Chẳng hạn khi bàn về sửa Luật Đất đai, cần phải có xác định nguyên tắc cốt lõi để không chỉ tháo gỡ một vài thủ tục về đất đai, mà phải giải quyết được những vấn đề sâu xa, căn cơ như giá trị thặng dư của đất, phải xử lý sao cho hài hòa lợi ích của các bên, mang lại lợi ích tốt nhất cho nền kinh tế.
- Vậy, ở góc độ doanh nghiệp, để tận dụng hiệu quả gói hỗ trợ của Chính phủ, bản thân doanh nghiệp cũng phải tái cơ cấu mô hình kinh doanh ra sao?
Khi có các quy định cụ thể về hỗ trợ lãi suất cho vay từ nguồn ngân sách nhà nước trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, doanh nghiệp cũng cần chủ động điều chỉnh mô hình kinh doanh để bảo đảm tận dụng hiệu quả. Một mặt, doanh nghiệp phải bảo đảm các hoạt động sản xuất kinh doanh sử dụng vốn vay đáp ứng quy định về đối tượng khách hàng vay vốn được hỗ trợ lãi suất.
Các hoạt động này không nhất thiết phải theo cách thức doanh nghiệp đã và đang thực hiện, mà có thể gắn với các mô hình kinh tế mới, như kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp, hay hoạt động dịch vụ thông tin gắn với chuyển đổi số… Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần đánh giá những cơ hội mới từ thị trường nước ngoài, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do mới (như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực – RCEP), để bảo đảm đầu ra hiệu quả.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
(VNF) - Khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, nhiều chuyên gia cho rằng sự thịnh vượng sẽ không đồng nghĩa với nhàn nhã. Trái lại, đó có thể là một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cấp năng lực và xây dựng “hạ tầng” cho chính mình nếu không muốn bị bỏ lại phía sau.
(VNF) - Việc tổ chức lại không gian đô thị Đà Nẵng sau sáp nhập không chỉ là một bài toán kỹ thuật quy hoạch mà còn là phép thử về bản lĩnh thể chế và tầm nhìn phát triển dài hạn của thành phố. Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, ông Nguyễn Cửu Loan – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Quy hoạch Phát triển đô thị TP. Đà Nẵng cho rằng đây là cơ hội lịch sử để thành phố tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng đa trung tâm, tích hợp vùng và bền vững.
(VNF) - Lễ ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự hình thành của một thiết chế mới, mà còn mở ra kỳ vọng đưa Việt Nam tiến gần hơn tới “vòng trong” của dòng vốn toàn cầu. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân để tham vọng này trở thành hiện thực, điều kiện tiên quyết không chỉ là ưu đãi hay vị trí địa lý, mà phải kiến tạo được một “không gian thể chế đặc biệt” đủ minh bạch, ổn định và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
(VNF) - Với mục tiêu đến năm 2045 sẽ trở thành quốc gia thu nhập cao, công nghiệp hoá là con đường bắt buộc. Nhưng trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thế giới ngày càng bất định, tiến trình công nghiệp hóa Việt Nam sẽ đi theo hướng nào, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách ra sao? Tạp chí Đầu tư Tài chính đã có cuộc trao đổi với GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda, Tokyo về các vấn đề này.
(VNF) - Một nền kinh tế muốn đi nhanh không thể thiếu áp lực. Không có áp lực, không có sự thúc ép, hệ thống sẽ trì trệ, nguồn lực bị giữ lại trong trạng thái phòng thủ. Nhưng sự thúc ép cần đi cùng với sự khai thông.
(VNF) - Khi bàn về lịch sử và tương lai của kinh tế tư nhân Việt Nam, có lẽ không nên thu hẹp câu chuyện vào vài biểu đồ tăng trưởng hay một số tập đoàn nổi bật thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Những con số, dù cần thiết, vẫn chỉ phản ánh một lát cắt ngắn của một quá trình dài hơn nhiều: hành trình hình thành của một lực lượng kinh tế trong những điều kiện đặc biệt, nhiều lần bị gián đoạn, chịu tổn thương sâu sắc, rồi từng bước phục hồi và tìm cách khẳng định vị trí của mình.
(VNF) - Nói người Việt, đặc biệt là người Việt nông thôn coi trọng thương mại, gọi nôm na là buôn bán, có gì đó sai sai, ít ra cũng thiếu cơ sở về mặt dẫn chứng thực tế! Càng sai so với tư duy quen thuộc mà nhiều người đang neo chặt trong đầu, được quy cho thuộc về tố chất dân tộc, bất khả bàn cãi?
(VNF) - Kinh tế Việt Nam năm 2026 diễn ra trong bối cảnh giữ ổn định vĩ mô, dư địa đầu tư công mở rộng, chi ngân sách tăng mạnh, thương mại hàng hóa quốc tế và tiêu dùng hộ gia đình phục hồi
chậm, xuất khẩu chịu áp lực rõ rệt từ suy giảm tổng cầu thế giới. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu
kép: vừa củng cố nền tảng tăng trưởng truyền thống, vừa đẩy nhanh chuyển đổi mô hình phát
triển sang kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức. Nếu thành công, Việt Nam có thể tạo ra
sức bật tăng trưởng mới đủ mạ
(VNF) - Đại hội XIV của Đảng được xác định là dấu mốc quan trọng, kết tinh niềm tin và kỳ vọng lớn lao của toàn dân tộc về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và văn minh. Với tầm nhìn chiến lược và những quyết sách đột phá, Đạị hội mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhằm mục tiêu phấn đấu đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn 2026–2030.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập nhấn mạnh cải cách không thể dừng ở sửa đổi văn bản hay cắt giảm thủ tục trên giấy tờ. Điều cốt lõi là phải thay đổi tư duy thực thi, bảo đảm chính sách minh bạch, ổn định và tôn trọng quyền được chuẩn bị của doanh nghiệp, nếu không, những “điểm nghẽn” mới vẫn có thể tiếp tục phát sinh ngay trong quá trình triển khai.
(VNF) - TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 là bước đi cụ thể để hiện thực hóa khát vọng phát triển mới. Chúng ta đã có đà từ nền kinh tế đã phục hồi mạnh, xuất nhập khẩu tiệm cận 1.000 tỷ USD, FDI và khu vực tư nhân gia tăng đóng góp. Tuy nhiên, để đạt mốc 10%, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng thể chế và kiểm soát chặt rủi ro vĩ mô trong quá trình tăng tốc.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
(VNF) - Công trường Vành đai 2,5 từ khu đô thị mới Dịch Vọng đến đường Dương Đình Nghệ là một trong những đoạn vành đai đầu tiên được thi công theo lệnh khẩn cấp.