TS Võ Đình Trí: ‘Chiến sự Ukraine sẽ dẫn truyền lạm phát thế giới vào Việt Nam’
Vĩnh Chi -
22/03/2022 01:36 (GMT+7)
(VNF) – Theo TS Võ Đình Trí, Trường Đại học Kinh tế TP. HCM & IPAG Business School Paris (Pháp), hệ lụy lớn nhất của chiến sự Nga – Ukraine là tác động dẫn truyền của lạm phát thế giới vào Việt Nam. Điều này càng trở nên đáng lo ngại hơn khi nền kinh tế quốc gia “vừa ốm dậy” sau 2 năm dịch bệnh, đang rất cần môi trường ổn định để phục hồi và tăng trưởng.
TS Võ Đình Trí: ‘Chiến sự Ukraine sẽ dẫn truyền lạm phát thế giới vào Việt Nam’
- Chiến sự Nga – Ukraine là một sự kiện bất thường, nằm ngoài khả tiên liệu của Việt Nam về năm 2022. Theo ông, cuộc chiến này có ảnh hưởng như thế nào tới quá trình phục hồi, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam?
TS Võ Đình Trí: Cuộc chiến này rõ ràng có tác động sâu sắc đến kinh tế thế giới. Dự kiến ngày 19/4 Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) sẽ công bố đánh giá lại tăng trưởng toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thế giới theo các định chế tài chính lớn chắc chắc sẽ thấp hơn dự báo lúc đầu năm. Khi đó, chúng ta mới phần nào định lượng được sự “tàn phá” của cuộc chiến tới nền kinh tế.
Đặc biệt, các nền kinh tế lớn, phải đương đầu với “tam tai”: dịch bệnh, lạm phát, và chiến tranh. Tình hình dịch bệnh mới nhất ở Trung Quốc và Hàn Quốc cũng rất đáng quan ngại.
Với các dữ liệu hiện thời, có thể nói cuộc chiến Nga – Ukraine không tác động quá nhiều tới kinh tế Việt Nam. Quan hệ thương mại giữa nước ta và hai nước này không lớn. Nhưng điều đáng lo ngại là cuộc chiến tạo ra sự biến đổi mạnh mẽ của quan hệ thương mại quốc tế, đặc biệt liên quan đến Nga – quốc gia đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam. Đơn cử một khía cạnh là các lệnh trừng phạt kinh tế lẫn nhau giữa Nga và phương Tây có thể khiến Việt Nam rơi vào cảnh “trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”.
Bên cạnh đó, cuộc chiến đã tạo nên một hoàn cảnh ngặt nghèo cho tiến trình phục hồi kinh tế của Việt Nam sau đại dịch: giá nguyên vật liệu gia tăng (điển hình là xăng dầu, sắt thép…), dẫn đến chi phí sản xuất tăng lên, giá cả leo thang, ảnh hưởng tới sức mua vốn dĩ đã yếu ớt.
- Theo ông, những ngành nào của nền kinh tế Việt Nam sẽ gặp khó khăn từ tác động của cuộc chiến?
Điều này phải xét tới tác động lâu dài hay trước mắt. Nếu trước mắt, chúng ta thấy những ngành có chi phí đầu vào phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu sẽ bị ảnh hưởng. Ảnh hưởng sẽ càng nặng đối với những ngành khó chuyển gánh nặng chi phí cho người tiêu dùng. Song cũng phải thấy rằng có những doanh nghiệp sẽ lợi dụng tình hình để “té nước theo mưa”, điều chỉnh giá bán còn nhanh hơn cả tốc độ tăng của chi phí đầu vào. Đó là điều cơ quan quản lý nhà nước cần lưu ý.
- Ông nhìn nhận tác động của cuộc chiến tới nền kinh tế Việt Nam sẽ kéo dài hay chỉ là một cú sốc ngắn hạn? Trong trường hợp chiến sự kéo dài, rủi ro lớn hơn mà Việt Nam phải đối diện là gì?
Chiến sự là điều rất khó dự đoán, vì nó phụ thuộc vào toan tính của các nước lớn, tiến trình đàm phán giữa các bên tham chiến và những nước liên quan trực tiếp hay gián tiếp. Do vậy, tác động của cuộc chiến đến nền kinh tế Việt Nam cũng là điều rất khó dự báo. Tuy nhiên, bất kỳ nền kinh tế nào cũng sẽ tự động thích nghi với hoàn cảnh mới và Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Nếu chiến sự kéo dài, tôi nghĩ rủi ro sẽ là đáng kể đối với Việt Nam, bởi khi đó giá của nhiều nguyên liệu và hàng hóa nhập khẩu sẽ giữ ở mức cao. Giá thế giới tăng thì Việt Nam có thể tăng giá xuất khẩu, nhưng sẽ khó khăn khi tiền lương, thu nhập của người lao động chưa điều chỉnh theo kịp.
- Việc gì cũng có hai mặt, vậy liệu kinh tế Việt Nam có được hưởng lợi gì từ cuộc chiến?
Trong cuộc chiến này, sẽ có những bên hưởng lợi nhất định, nhưng đáng tiếc Việt Nam lại nằm ở bên chịu thiệt hại, dù cho một số ngành của nền kinh tế nước ta có thể được hưởng lợi trong ngắn hạn, ví dụ nông – thủy sản. Song, giá trị xuất khẩu của nông – thủy sản không quá lớn. Mặt khác, nếu chiến sự kéo dài thì nhu cầu trên thế giới cũng sẽ suy giảm, cuối cùng cũng dẫn tới thiệt hại. Đó là chưa nói, xuất khẩu của Việt Nam phần lớn được tạo ra bởi khối ngoại.
Cũng như đã nói ở trên, Việt Nam là nước xuất khẩu nên giá thế giới tăng sẽ khiến cho quy mô xuất khẩu tăng, cho nên về mặt con số cũng là một điều tích cực.
- Vậy khuyến nghị của ông cho Chính phủ trong bối cảnh này là gì?
Hệ lụy lớn nhất của chiến sự Nga – Ukraine là tác động dẫn truyền của lạm phát thế giới vào Việt Nam. Điều này càng trở nên đáng lo ngại hơn khi nền kinh tế quốc gia “vừa ốm dậy” sau 2 năm dịch bệnh, đang rất cần môi trường ổn định để phục hồi và tăng trưởng. Tôi cho rằng Chính phủ phải chuẩn bị cẩn trọng, ứng xử linh hoạt vì sắp tới e rằng mục tiêu kiểm soát lạm phát là rất khó khăn.
Ứng phó với lạm phát thì lý thuyết kinh tế đã có những “bài thuốc” kinh điển, vấn đề chỉ là mỗi thời điểm khác nhau sẽ “kê đơn” theo các liều lượng khác nhau: điều chỉnh lãi suất, hỗ trợ những người có thu nhập thấp… Nhưng quan trọng nhất vẫn là sự nhất quán và thông điệp rõ ràng về mặt điều hành của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, để tạo ra tâm lý an toàn cho giới kinh doanh và người dân.
Thực ra, lạm phát về tâm lý còn nguy hiểm hơn lạm phát thực sự, bởi nó tạo ra tâm lý đám đông, ai cũng nghĩ giá tăng thì sẽ tạo ra cảnh doanh nghiệp găm hàng, người dân tranh mua, tranh bán. Nhưng nếu người dân biết rằng giá tăng có giới hạn, Chính phủ sẽ can thiệp khi cần thiết, nguồn cung đảm bảo thì sẽ không xảy ra các cơn sốt giá. Đây cũng là kinh nghiệm quốc tế mà tôi theo dõi ở các nước trên thế giới.
(VNF) - Mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ khó đạt được nếu nền kinh tế tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào đầu tư công và tín dụng ngân hàng. Muốn tạo đột phá tăng trưởng, Việt Nam cần thay đổi tư duy điều hành theo hướng dùng đầu tư công để thu hút, kích hoạt và dẫn dòng vốn tư nhân tham gia mạnh mẽ hơn vào nền kinh tế.
(VNF) - TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho rằng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn đã trở thành “bệ đỡ” quan trọng giúp Việt Nam giữ nhịp tăng trưởng ngay từ đầu năm 2026, đồng thời tạo nền tảng để củng cố các động lực như xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư trong thời gian tới.
(VNF) - Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, việc lựa chọn động lực dẫn dắt trở nên đặc biệt quan trọng. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, tài chính, đặc biệt là tài chính công nghệ, cần được xác định là mũi nhọn chiến lược nếu muốn tạo bứt phá về năng suất, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao vị thế của nền kinh tế trong dài hạn.
(VNF) - Theo TS. Lê Duy Bình, tranh luận về ngưỡng doanh thu miễn thuế cho hộ kinh doanh thực chất mới chỉ xử lý “phần ngọn”. Điều quan trọng hơn là phải xác lập rõ địa vị pháp lý và cách tiếp cận thuế phù hợp với bản chất kinh doanh cá thể, từ đó tạo nền tảng cải cách bền vững.
(VNF) - Theo ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, dù chịu tác động từ xung đột địa chính trị, chi phí đầu vào tăng và rủi ro thương mại toàn cầu, kinh tế Việt Nam năm 2026 vẫn được dự báo tăng trưởng khoảng 7,2%. Tuy nhiên, để giữ vững đà này, Việt Nam cần linh hoạt điều hành vàvà kiên định với cải cách dài hạn.
(VNF) - TS Võ Trí Thành cho rằng trong nền kinh tế số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực có giá trị như một “mỏ vàng”, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, việc quản trị, phân bổ và kiểm soát dữ liệu lại đặt ra những thách thức phức tạp, từ quyền sở hữu, quyền riêng tư đến cân bằng giữa tự do hóa và an ninh, khiến đây trở thành một trong những bài toán khó nhất hiện nay.
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
(VNF) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng vận hành của hoạt động đầu tư, kinh doanh, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của rủi ro pháp lý và tranh chấp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn phải thiết kế lại tư duy quản trị rủi ro theo hướng chủ động, xuyên suốt toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư.
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
Trong cuộc đua nhân sự, nhiều doanh nghiệp TP.HCM đẩy nhanh cấp bậc qua danh xưng để hút ứng viên, nhưng không đi kèm lương, quyền lợi tương xứng, khiến người lao động vỡ kỳ vọng.
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”.
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu
hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch,
tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
(VNF) - Mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ khó đạt được nếu nền kinh tế tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào đầu tư công và tín dụng ngân hàng. Muốn tạo đột phá tăng trưởng, Việt Nam cần thay đổi tư duy điều hành theo hướng dùng đầu tư công để thu hút, kích hoạt và dẫn dòng vốn tư nhân tham gia mạnh mẽ hơn vào nền kinh tế.
(VNF) - Dù công tác giải phóng mặt bằng đoạn Nguyễn Trãi - Đầm Hồng, thuộc Vành đai 2.5 Hà Nội, vẫn chưa hoàn tất, dọc tuyến đã xuất hiện nhiều công trình xây trên những thửa đất nhỏ hẹp, méo mó sau phá dỡ. Đáng nói, đa số đất trong khu vực đều có nguồn gốc là đất nông nghiệp.