Vốn nào để làm đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam?
(VNF) - Chuyên gia kinh tế cho rằng đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam không thể chỉ bán vé để thu tiền đầu tư, bởi lợi ích đầu tư đường sắt là lợi ích đầu tư lan tỏa, tạo sự phát triển cho xã hội, cho đất nước, do đó, đầu tư công là phương án khả dĩ nhất.
Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam được kỳ vọng sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải, góp phần tái cơ cấu thị phần vận tải trên hành lang Bắc - Nam một cách tối ưu, bền vững, tạo tiền đề, động lực cho phát triển kinh tế - xã hội giữa các địa phương, đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Mặc dù vậy, với tổng mức đầu tư lớn, nhiều quan điểm bày tỏ lo ngại về khả huy động vốn trong và ngoài nước cũng như an toàn nợ công của quốc gia khi Việt Nam triển khai dự án này. Để làm rõ hơn vấn đề này, Đầu tư Tài chính có cuộc trao đổi với PGS. TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế.

Thưa ông, dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam được đề xuất với tổng mức đầu tư trên 67,34 tỷ USD, ông đánh giá thế nào về dự án này?
PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Việt Nam là quốc gia có chiều dài đất nước hàng nghìn km, hình thể hẹp, do vậy, việc phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao là rất cần thiết, tạo ra tiền đề phát triển, cơ cấu lại hành lang vận tải Bắc - Nam.
Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam là dự án trọng điểm và có quy mô siêu lớn, cần trình độ công nghệ tiên tiến mang tính lịch sử. Nếu thực hiện được dự án này, đất nước không chỉ có thêm loại hình vận tải hiện đại mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời khi triển khai dự án sẽ tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động và các doanh nghiệp tham gia vào dự án.
Cùng với đó, dự án cũng mang tới cơ hội nâng cao năng lực của cả nền kinh tế Việt Nam từ sản xuất vật liệu đến chế tạo cơ khí, xây dựng hạ tầng, điện, công nghệ số... Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam còn có thể đáp ứng được một lượng hàng hóa có trọng lượng lớn và chi phí rẻ.
Tất cả các ngành sẽ được kích hoạt và phát triển vì công trình đường sắt tốc độ cao không chỉ liên quan xây dựng cầu, đường, hầm mà có sự tham gia của những yếu tố hết sức quan trọng hiện nay là công nghệ số, robot, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng và vận hành khai thác sau này.
Khi chúng ta có tuyến đường sắt tốc độ cao nối từ Bắc vào Nam gần như sẽ kết nối các trung tâm kinh tế đó, tạo thành huyết mạch cho kinh tế Bắc - Nam. Và, khi tạo ra được huyết mạch kinh tế này, chúng ta sẽ khơi thông được các luồng di chuyển, tạo ra khả năng phát triển giữa các vùng miền.
Với mức đầu tư 67,34 tỷ USD có thể dự án sẽ phát huy một cách tối đa qua đó giúp nhiều ngành kinh tế được hưởng lợi, nhiều ngành sản xuất có cơ hội học hỏi, nâng tầm và phát triển.
- Với tổng mức đầu tư lớn, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam được xác định đầu tư theo hình thức đầu tư công, gồm cả vốn ngân sách, vốn trái phiếu Chính phủ và vốn vay. Ông nhận định thế nào về phương án đầu tư này?
PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam được đánh giá là dự án đầu tư chưa từng có với số vốn 67,34 tỷ USD. Con số này không chỉ lớn đối với Việt Nam từ trước đến nay mà so với thế giới cũng là một dự án có quy mô đầu tư lớn.
Tuy nhiên để dự án có thể sớm được triển khai, cần phải có quyết tâm đầu tư và phải đầu tư dứt điểm, tập trung để sớm đưa vào vận hành. Vậy nên, tôi cho rằng cần có phương án để tính toán huy động đủ nguồn lực này. Với quy mô kinh tế của Việt Nam hiện nay, nguồn lực để huy động 67,3 tỷ USD không phải quá thách thức.
Tại sao chúng ta phải nghĩ đến nguồn đầu tư công? Bởi rất khó có thể kêu gọi đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Đường sắt không thể chỉ bán vé để thu tiền đầu tư, bởi lợi ích đầu tư đường sắt là lợi ích đầu tư lan tỏa, tạo sự phát triển cho xã hội, cho đất nước. Do vậy, đầu tư hạ tầng đường sắt phải là đầu tư công, phải dùng tiền ngân sách.

Nếu cần thì phát hành trái phiếu, đầu tư theo hình thức Chính phủ phát hành vay nợ là phương án khả thi nhất vừa không phải chịu áp lực từ bất cứ nhân tố nào bên ngoài, vừa đảm bảo tính chủ động sáng tạo, cũng như lựa chọn hiệu quả cho kế hoạch đầu tư.
Đặc biệt, việc chúng ta tự chủ được nguồn vốn cũng hấp dẫn các quốc gia đang làm chủ công nghệ đường sắt tốc độ cao, và tất nhiên chúng ta sẽ có cơ hội chủ động lựa chọn công nghệ tiên tiến nhất, đáp ứng yêu cầu của chúng ta.
- Ngoài các phương án được tính đoán đến như phát hành trái phiếu công trình địa phương, phương án vay nợ để thực hiện dự án này có khả thi không thưa ông?
PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Xét về phương diện vay nợ tôi cho rằng có thể làm được, chúng ta có thể vay các tổ tín dụng quốc tế hay các quốc gia khác đều được nhưng dễ đi kèm theo nhiều điều khoản về kinh tế - xã hội, chính trị, lãi suất vì bản chất không ai cho mình vay không.
Về mặt nguyên tắc chúng ta cần lường thu để chi, đảm bảo cân đối ngân sách, giảm thiểu bội chi ngân sách để chủ động trong ngân sách nhà nước, không quá phụ thuộc vào việc đi vay. Bản thân chúng ta giữ giá trị đồng tiền, trong trường hợp bắt buộc phải phải đi vay, chúng ta nên ưu tiên các khoản vay trong nước mà cụ thể là người dân.
Trong trường hợp vay vốn ở nước ngoài, chúng ta cần tránh tình trạng khi dự án không như mong muốn, lúc này việc trả nợ nước ngoài sẽ rất khó khăn và có nguy cơ dính vào “bẫy nợ”.
- Dự án quy mô lớn, đòi hỏi nguồn vốn lớn, vậy theo ông, việc ngân sách nhà nước tham gia vào dự án sẽ tác động đến nợ công và cơ cấu nợ công của chúng ta trong thời gian sắp tới ra sao?
PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Nếu mỗi năm chỉ huy động 7 tỷ USD cho dự án, nghĩa là chỉ tăng bội chi ngân sách một năm khoảng hơn 1% và tăng từng đó đồng nghĩa với tăng nợ công thêm 1%. Cho nên, tôi cho rằng dư địa để huy động vốn cho dự án đường sắt này thông qua con đường vay nợ công là hoàn toàn an toàn và quan trọng là chúng ta có cơ sở và có khả năng vay được. Song, việc phát hành trái phiếu để vay trong nước là ưu tiên.
Nếu như vay trong nước một năm trái phiếu 7 tỷ USD thì chỉ bằng khoảng 1% so với tổng tài sản của các định chế tài chính hiện có.
Tôi nghĩ nên ưu tiên phát hành trái phiếu trong nước chứ không nên vay ngoài. Việc tự vận dụng nguồn vốn trong nước sẽ giúp chúng ta đỡ ràng buộc và cải thiện được dư nợ công một cách tốt nhất.
- Nếu lựa chọn phương án vay nợ từ nước ngoài, chúng ta có phương án nào tối ưu để tránh “bẫy nợ” không thưa ông?
PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Việc vay nợ từ nước ngoài để làm dự án đường sắt tốc cao Bắc - Nam có thể rơi vào “bẫy nợ” đã được dự tính trước. Các tổ chức cho vay sẽ kèm các điều khoản ràng buộc và hà khắc.
Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại, Việt Nam có thể tự huy động vốn trong nước như: ngân sách nhà nước, trái phiếu, vốn địa phương hay các nguồn vốn khác của nhà nước. Tự huy động được nguồn vốn, chúng ta sẽ tránh được nguy cơ rơi vào "bẫy nợ". Tôi cho rằng vay trong nước là phương án an toàn nhất hiện nay.
Cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!
Các địa phương trông chờ đột phá từ đường sắt tốc độ cao
- Thủ tướng: Hoàn thiện thủ tục đầu tư đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam trong 2025 21/10/2024 11:15
- Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam: Đề nghị làm rõ mức đầu tư 67 tỷ USD 15/10/2024 10:51
- 'Tự lực làm đường sắt tốc độ cao, không phụ thuộc nước ngoài' 25/10/2024 07:00
Tái định vị kinh tế nhà nước: Không đo bằng quy mô, mà bằng năng lực dẫn dắt
(VNF) - Nghị quyết 79-NQ/TW được xem là bước ngoặt trong tư duy phát triển khi lần đầu tiên đặt lại cách nhìn về vai trò kinh tế nhà nước, chuyển trọng tâm từ quy mô nguồn lực sang năng lực dẫn dắt và tạo lập giá trị. Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, cách tiếp cận này không chỉ thay đổi kỳ vọng đối với doanh nghiệp nhà nước, mà còn mở ra dư địa mới để nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Toàn cầu bất định, Việt Nam cần 'linh hoạt điều hành và kiên định cải cách dài hạn'
(VNF) - Theo ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, dù chịu tác động từ xung đột địa chính trị, chi phí đầu vào tăng và rủi ro thương mại toàn cầu, kinh tế Việt Nam năm 2026 vẫn được dự báo tăng trưởng khoảng 7,2%. Tuy nhiên, để giữ vững đà này, Việt Nam cần linh hoạt điều hành vàvà kiên định với cải cách dài hạn.
TS Võ Trí Thành: Dữ liệu là 'mỏ vàng' nhưng là bài toán khó nhất hiện nay
(VNF) - TS Võ Trí Thành cho rằng trong nền kinh tế số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực có giá trị như một “mỏ vàng”, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, việc quản trị, phân bổ và kiểm soát dữ liệu lại đặt ra những thách thức phức tạp, từ quyền sở hữu, quyền riêng tư đến cân bằng giữa tự do hóa và an ninh, khiến đây trở thành một trong những bài toán khó nhất hiện nay.
Doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng mạnh nhưng số rời đi cũng rất nhiều
(VNF) - Quý I/2026 ghi nhận làn sóng doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường tăng mạnh, phản ánh tín hiệu phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cùng với đó là áp lực rút lui và giải thể gia tăng, cho thấy quá trình sàng lọc ngày càng khắt khe và những điểm nghẽn nội tại dường như vẫn chưa được tháo gỡ.
An toàn dữ liệu trong kỷ nguyên AI
(VNF) - An toàn dữ liệu tại Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mang tính bản lề khi nhận thức đã đi trước, nhưng năng lực bảo vệ vẫn chưa theo kịp.
Tài sản số thay đổi cấu trúc các giao dịch: Rủi ro và tranh chấp pháp lý gia tăng
(VNF) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc nền tảng vận hành của hoạt động đầu tư, kinh doanh, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của rủi ro pháp lý và tranh chấp. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn phải thiết kế lại tư duy quản trị rủi ro theo hướng chủ động, xuyên suốt toàn bộ vòng đời của dự án đầu tư.
'Định kiến người giàu gắn với bất minh khiến doanh nhân thiếu được tôn trọng'
(VNF) - Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, hiện vẫn còn định kiến rằng người giàu thường gắn với sự bất minh, từ đó thiếu sự tôn trọng đúng mức đối với vai trò của lực lượng doanh nhân.
Lạm phát chức danh, nghịch lý giám đốc nhận lương 11 triệu đồng/tháng
Trong cuộc đua nhân sự, nhiều doanh nghiệp TP.HCM đẩy nhanh cấp bậc qua danh xưng để hút ứng viên, nhưng không đi kèm lương, quyền lợi tương xứng, khiến người lao động vỡ kỳ vọng.
Trung tâm tài chính quốc tế: Không chỉ hội tụ dòng tiền mà cần tập trung trí tuệ
(VNF) - Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc phụ trách Ban giám đốc Học viện Ngân hàng: “Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ là nơi dòng tiền hội tụ, mà còn là nơi tập trung trí tuệ, công nghệ và các chuẩn mực vận hành tiên tiến”.
Muốn DNNN bứt phá, phải chấm dứt tư duy 'giữ phần, sợ sai'
(VNF) - Trao đổi với VietnamFinance, LS Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SBLAW.cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay không chỉ nằm ở cơ chế mà còn ở tư duy “giữ phần, sợ sai” kéo dài nhiều năm. Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 79, cần một cuộc cải cách mạnh mẽ từ thể chế đến quản trị, trong đó trao quyền thực chất và tạo “không gian an toàn” để doanh nghiệp dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và bứt phá.
Góc nhìn về cuộc chiến Mỹ - Iran: Phân tử cuối cùng còn lại
(VNF) - Cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động nhắm vào Iran đã và đang để lại những hệ quả rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. VietnamFinance xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của tác giả Shanaka Anslem Perera về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến này. Bài viết được dịch giả Phạm Quang Vinh gửi riêng cho tòa soạn.
Muốn tăng trưởng đột phá, phải trao quyền 'làm chủ' chương trình quốc gia cho tư nhân
(VNF) - “Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
Lệch pha tài khóa – tiền tệ, tăng trưởng có thể 'trật nhịp'
(VNF) - PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cảnh báo, việc thiếu phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ có thể làm suy giảm hiệu quả điều hành, thậm chí khiến đà tăng trưởng “trật nhịp”.
Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI
(VNF) - Sáng ngày 6/4, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, phiên khai mạc sẽ diễn ra trọng thể tại Nhà Quốc hội.
Muốn cải cách DNNN, phải bắt đầu từ thể chế
(VNF) - Theo TS. Phan Đức Hiếu, cải cách doanh nghiệp nhà nước không thể chỉ dừng ở tái cơ cấu hay thay đổi quản trị nội bộ, mà cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện thể chế, bảo đảm minh bạch, tách bạch vai trò và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác.
Lựa chọn doanh nghiệp nhà nước 'đầu tàu' dẫn dắt nền kinh tế
(VNF) - Trao đổi với Đầu tư Tài chính, TS. Nguyễn Minh Thảo, Ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, cho rằng việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh làm “đầu tàu” sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa và nâng cao hiệu quả của chính khu vực kinh tế nhà nước cũng như của toàn nền kinh tế.
Hà Nội tầm nhìn 2045: Hai sứ mệnh làm giàu đẹp Thủ đô và vì sự thịnh vượng quốc gia
(VNF) - Thành công của Hà Nội không chỉ đo bằng quy mô kinh tế riêng lẻ, mà còn bằng mức độ thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khả năng kéo cả “đoàn tàu” quốc gia tiến lên.
Chiến sự nóng bỏng nhưng giá vàng đổ dốc: Áp lực nào đẩy vàng đi ngược quy luật?
(VNF) - Sự vượt ra khỏi quy luật thông thường của giá vàng cho thấy thị trường tài chính toàn cầu đang vận hành theo những quy luật phức tạp hơn, nơi dòng tiền không chỉ tìm đến vàng mà còn dịch chuyển mạnh sang các tài sản sinh lời khác.
Vào chuỗi toàn cầu: DN Việt làm nặng nhọc nhất nhưng 'đứng ngoài' phần lợi nhuận lớn nhất
(VNF) - Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc tế, song phần lớn vẫn dừng ở khâu sản xuất, gia công – phần “xương” nhất trong chuỗi giá trị, trong khi 70 – 80% lợi nhuận lại tập trung ở các khâu thương hiệu và phân phối.
Phát triển doanh nghiệp nhà nước:'Cần thiết kế thể chế, phân định rõ sân chơi'
(VNF) - Luật sư Nguyễn Tiến Lập cho rằng, để kinh tế nhà nước thực sự dẫn dắt được nền kinh tế, Nhà nước cần làm tốt vai trò thiết lập thể chế, "phân định sân chơi" ngay từ đầu, tránh nguy cơ tiềm ẩn xung đột với khu vực tư nhân.
'Giữa biến động toàn cầu, Việt Nam vẫn giữ vững ổn định vĩ mô'
(VNF) - TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động và rủi ro gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ đà tăng trưởng trong thời gian tới.
Lịch sử những lần vàng sập giá: Điều gì sẽ đến sau cú giảm sâu 40 năm mới có một lần?
(VNF) - Dù được xem là “tài sản trú ẩn an toàn” nhưng vàng vẫn nhiều lần lao dốc mạnh trong lịch sử, có khi mất tới 60% giá trị. Từ sau 'Nixon Shock' đến biến động hiện tại được ví như lặp lại chu kỳ 40 năm, các đợt sụt giảm này cho thấy vàng không miễn nhiễm rủi ro, mà luôn vận động theo chu kỳ kinh tế và chính sách tiền tệ toàn cầu.
Di dời đại học khỏi nội đô: Hà Nội đứng trước một lựa chọn lớn
(VNF) - Sáng qua, khi đi vào giờ cao điểm trên đường Nguyễn Trãi, tôi chứng kiến gần như đầy đủ những gì Hà Nội đang phải gánh.
Mỹ tấn công Iran: 'Chi phí leo thang chặn đà phục hồi của nền kinh tế'
(VNF) - TS Bùi Ngọc Sơn, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng căng thẳng quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy Trung Đông trở lại vòng xoáy bất ổn, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc chi phí mới đối với kinh tế toàn cầu. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào năng lượng nhập khẩu thì nguy cơ giá dầu, chi phí vận tải và lãi suất gia tăng có thể tạo áp lực lên lạm phát, thu hẹp dư địa chính sách và bào mòn đà phục hồi còn mong manh.
Mỹ tấn công Iran: Chiến sự Trung Đông gây 'cú sốc' kép với Việt Nam?
(VNF) - Chiến sự tại Trung Đông đang bước vào giai đoạn leo thang mới, tiềm ẩn nguy cơ lan rộng và tác động dây chuyền tới kinh tế toàn cầu. PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhận định, nếu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Việt Nam có thể đối mặt “cú sốc kép” từ giá dầu tăng mạnh và áp lực lạm phát nhập khẩu, đòi hỏi phải chủ động kịch bản điều hành và chiến lược dự trữ phù hợp.
Tái định vị kinh tế nhà nước: Không đo bằng quy mô, mà bằng năng lực dẫn dắt
(VNF) - Nghị quyết 79-NQ/TW được xem là bước ngoặt trong tư duy phát triển khi lần đầu tiên đặt lại cách nhìn về vai trò kinh tế nhà nước, chuyển trọng tâm từ quy mô nguồn lực sang năng lực dẫn dắt và tạo lập giá trị. Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, cách tiếp cận này không chỉ thay đổi kỳ vọng đối với doanh nghiệp nhà nước, mà còn mở ra dư địa mới để nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Khảo sát dự án Metropoli5 của Vietradico sau nhiều năm quây tôn
(VNF) - Dự án Metropoli5 của Vietradico tại Nam An Khánh mới đây đã bắt đầu chuyển động sau nhiều năm quây tôn.































































